Thứ Sáu, 13 tháng 4, 2012

BIẾT VÀ KHÔNG BIẾT.


KHÔNG VÀ KHÔNG CÓ GÌ HAY BIẾT VÀ KHÔNG BIẾT.

Có một nhà buôn Ấn Độ trên con đuờng tơ luạ. Ông ta có một cửa hàng và một nguời con. Anh ta vẫn thuờng quan sát, phân loại các loại hàng hóa mà nguời cha mang về, đặc biệt là việc đếm số luợng của chúng, từ 1,2,3...đến trăm, vạn...vv. 

Một hôm có một vị khách ngoài vũ trụ ghé cửa hàng. Vị khách đặt mua hai món hàng, đó là lạc đà và môtô. Ông ta mô tả kĩ từng món hàng và dặn nguời con hãy ghi lại số luợng từng món hàng trên mặt cát ngoài sân. Khi nguời cha về, anh ta bèn nói : 

- Thưa cha, có một vị khách, ông ta đặt mua 2 món hàng, món thứ I thì nhà ta vẫn thuờng bán, đó là lạc đà, còn món hàng thứ II thì ông ta bảo nó giống như con ngựa vậy, nhưng có 2 bánh xe thay cho 4 chân và chỉ uống một loại nuớc gọi là xăng thay vì ăn cỏ.

- Món hàng thứ I nhà ta có bán nhưng hết rồi, còn món hàng thứ II thì ta chưa từng thấy.

- Vậy thì phải kí hiệu gì cho ông ta ?

- Có gà ắt phải có trứng, hết gà thì hẳn phải còn trứng. Vậy lạc đà nên kí hiệu bằng một quả trứng (hình ovan). Còn mô-tô vì ta phải tìm nên kí hiệu bằng dấu X vậy.

Dĩ nhiên, trong trường hợp này ta có thể kí hiệu bằng bất cứ thứ gì, nhưng vấn đề là làm sao ta hiểu mà người khác cũng hiểu, cho dù giữa họ và ta chưa có bất cứ qui ước gì về kí hiệu. Cái gì tượng trưng cho “có nhưng hết rồi” và cái gì cho “chưa biết” ? Nói về “biết” hẳn Nho học cũng đã qua hàng thiên niên kỷ suy ngẫm về câu nói của Khổng Tử, sau đây là một dạng diễn đạt:

- Biết cái không biết, ấy là biết.

Một khái niệm bao trùm, tiên nghiệm, hợp nhất giữa “biết” và “không biết”. Từ cái biết cụ thể đến cái biết khái niệm có gì khác biệt. Phải chăng “không biết” là một tập rỗng so với một tập đầy ? Phải chăng cái biết được dán nhãn và cái không biết cũng được dán một nhãn khác ? Phải chăng cái biết là nhãn mác chứa nội dung và cái không biết là nhãn mác vô nội dung ? Hoặc là cái được biết được dán nhãn “không biết”? Một cái biết phổ quát, bao hàm và đồng dạng với cái biết cụ thể, nghĩa là nó vẫn có nghĩa và qui về một hiện thực.Cái biết kiến tạo nên cái không biết, như con gà và quả trứng, nguyên nhân và hậu quả. Biết và không biết phải chăng có điểm chung ? Không hẳn là như thế. Đấy chính là logic của hệ thống. Về mặt dấu hiệu học, kí hiệu “biết” không qui về cái được kí hiệu, tức “cái được biết” hay khái niệm cụ thể, mà hướng về kí hiệu “không biết”, đấy là xu hướng độc đoán của các biểu tượng, phù hợp với quan điểm dấu hiệu hiện đại. Đặc biệt với trì-biệt (J. Derrida), từ “biết” đến “không biết” là cả một quá trình, tạo nghĩa của kí hiệu “biết” gần như không thể “chạm” đến “cái được biết”. Ta cũng có thể hiểu, hoặc biết “điều đối lập của biết” cũng là biết, hoặc hệ thống logic trên tiến triển đến việc phủ nhận chính nó. Có vẻ như định lý bất toàn của Kurt Godel đã được Khổng Tử chứng minh cách nay những 2500 năm.

Trở lại câu chuyện của nhà buôn trên, chúng ta dễ dàng nhận biết sự tương đương:

- Biết = Lạc đà = Trứng = Gà, và

- Không biết = Mô-tô = X.

Hoán vị một số vị trí trong câu nói Khổng Tử, ta được một số dạng:

- Biết (lạc đà) cái không biết (mô-tô), ấy là biết (kí hiệu).



Cả cái đã biết (lạc đà) và cái chưa biết (mô-tô) đều vắng mặt, một thuộc về quá khứ, một thuộc về tương lai. Đấy là một điểm khác biệt. Một cái “khuôn” đã định hình nhưng không chứa gì hết, và một cái “khuôn” tương tự bất cứ chiếc khuôn danh từ nào, cũng được dành cho cái chưa biết. Công việc của dấu hiệu học là đánh dấu, dán nhãn, là kí hiệu cho mỗi thứ. Dĩ nhiên, chúng khác biệt từ hình, dạng đến tính chất và hình thức cho chúng là để phục vụ cho định lượng. Chúng ta lại ở vào tình huống mà chính Saussure cũng phân vân, giữa hình thức, độc đoán hay bản chất, hợp lý ? Vậy thì điều gì giúp chúng ta truyền đạt một thông điệp ? Đấy chính là qui ước mà ở trên, nhà buôn đã có một nửa giao kèo, song mọi con số đều để chỉ những cái cụ thể đang hiện diện, chưa có tình huống nào như tình huống đó, cả 2 đều vắng mặt, và một trong số đó chưa được biết đến. Nếu không thể truyền đạt trực tiếp, vậy thì phải gián tiếp vậy. Mọi kí hiệu đều là trung gian gián tiếp. Truyền đạt gián tiếp là khai thác những kinh nghiệm chung về các hiện tượng cả của tự nhiên lẫn văn hóa. Lạc đà thuộc về phạm trù vật nuôi mà bất cứ xã hội nào cũng biết. Trong phạm trù vật nuôi này, người ta lại chia ra làm nhiều loại (hay loài) vật nuôi khác nhau, trong đó có gia cầm, điển hình là gà. Dân tộc nào cũng biết đến một loại gia cầm, chúng gắn liền với những quả trứng tạo nên một vòng tuần hoàn nhân quả có thể chuyển hóa, biểu đạt tương hổ lẫn nhau. Không gì vừa lạ lùng vừa mỏng manh hơn hình ảnh quả trứng giữa những vật thô sơ vô tri vô giác. Trứng và gà mang nhiều ý nghĩa triết học, nào là hiện tượng học, nào là nhân quả, biện chứng, nhất là dấu hiệu học. Mục tượng của dấu hiệu là phương thức nhận thức sát thực nhất, một thứ “cốt lõi” của phép biện chứng. Cho nên, đối với những người từng trải, dày dặn kinh nghiệm thì không có phương cách gì để truyền đạt thông điệp hay hơn hình ảnh quả trứng, một thứ tín hiệu đánh thức lương thức và gợi ý về sự chờ đợi. Ta cũng có thể hoán chuyển câu nói của Khổng Tử như sau:

- Biết gà đẻ trứng, ấy là biết.

Nếu lạc đà, cùng với gà-trứng thuộc về phạm trù vật nuôi thì mô-tô ta chưa biết xếp vào phạm trù nào. Nếu nó tương tự con ngựa thì ta cũng có thể xếp vào phạm trù vật nuôi và có thể kí hiệu bằng quả trứng (ở đây tên gọi hay biểu đạt cho các sự vật đã được thừa nhận theo giao kèo, vấn đề là ta phải kí hiệu cho số lượng của chúng). Song, nếu ta kí hiệu (số lượng) mô-tô bằng quả trứng (hình ovan) thì mặc nhiên xác nhận rằng nhà buôn kia sở hữu cả mô-tô (một thứ chỉ có ở tương lai) và gợi ý rằng sẽ có cả 2 món hàng cho người khách kia ! Hơn nữa qui định về ngữ đoạn và hệ biến hóa cũng không cho phép ta xác định đối tượng mô-tô, huống hồ là về số lượng của chúng. Vì thế chiếc mô-tô có thể được kí hiệu bằng bất cứ kí hiệu nào, trừ hình ô van. Giả sử ta kí hiệu bằng X đi nữa thì X cũng chỉ là một dạng dấu hỏi hay câu hỏi mà thôi. Mọi thứ khác lạ đều có thể được biểu đạt một cách khác lạ. Câu nói của Khổng Tử trong trường hợp này có thể chuyển hóa thành:

- Biết kí hiệu, ấy là biết.

Về mặt dấu hiệu học, “cái không biết”cũng biểu đạt cho…điều không biết vậy. “Biết” và “không biết” cũng là 2 mặt đối lập nhị nguyên. Cái “biết” kết câu là cái biết vượt lên trên những đối lập đó vậy. Mô hình thái cực vượt lên trên một mức, và hiện đại hơn cả mô hình Saussure.

Phan Biên.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Khảo sát tri thức và nhận thức.


   Bài viết này tôi đã đăng trên DD Giáo dục và sau đó là một dd nữa. Xin lưu ý tôi không lấy bài viết hoặc đạo văn của bất kỳ tác giả nào. Tôi cũng chẳng làm nghề viết hay nghiên cứu gì và những gì tôi đã viết đều do tôi độc lập suy nghĩ với đôi chút tò mò lẫn đùa cợt. Nhưng rồi chính những điều này lại lôi cuốn tôi vào việc viết hay nghiên cứu bất cứ điều gì. Tôi sẽ tập hợp lại những suy nghĩ của tôi trên Blog này.


Bản này được xem như 1 version mới.


Nhân sự cố máy tính năm 2000(Y2K) tôi có nảy ra một ý tuởng là tìm hiểu những hoàn cảnh đã dẫn đến việc phát minh ra số không. Truớc đó tôi có đọc một cuốn sách của GS Nguyễn Cảnh Toàn viết về phuơng pháp rèn luyện tư duy toán học, trong đó GS nhận định "số không nghĩa là không có gì". Qua sự có Y2K tôi thấy nhận định trên không còn đúng nữa. Sau đây là những phát kiến mới của tôi về vấn đề trên.

CON SỐ KHÔNG VÀ CẤU TRÚC TRI THỨC.

Câu chuyện:

Có một nhà buôn Ấn Độ trên con đuờng tơ luạ. Ông ta có một cửa hàng và một nguời con. Anh ta vẫn thuờng quan sát, phân loại các loại hàng hóa mà nguời cha mang về, đặc biệt là việc đếm số luợng của chúng, từ 1,2,3...đến trăm, vạn...vv. 
Một hôm có một vị khách ngoài vũ trụ ghé cửa hàng. Vị khách đặt mua hai món hàng, đó là lạc đà và môtô. Ông ta mô tả kĩ từng món hàng và dặn nguời con hãy ghi lại số luợng từng món hàng trên mặt cát ngoài sân. Khi nguời cha về, anh ta bèn nói : 
- Thưa cha, có một vị khách, ông ta đặt mua 2 món hàng, món thứ I thì nhà ta vẫn thuờng bán, đó là lạc đà, còn món hàng thứ II thì ông ta bảo nó giống như con ngựa vậy, nhưng có 2 bánh xe thay cho 4 chân và chỉ uống một loại nuớc gọi là xăng thay vì ăn cỏ.
- Món hàng thứ I nhà ta có bán nhưng hết rồi, còn món hàng thứ II thì ta chưa từng thấy.
- Vậy thì phải kí hiệu gì cho ông ta ?
- Có gà ắt phải có trứng, hết gà thì hẳn phải còn trứng. Vậy lạc đà nên kí hiệu bằng một quả trứng (hình ovan). Còn mô-tô vì ta phải tìm nên kí hiệu bằng dấu X vậy.



                                      Trong truờng hợp bạn, bạn kí hiệu như thế nào ? 

THÍ NGHIỆM:

Giả sử trên bàn không có vật gì. Bạn hãy hỏi các học sinh:
- Các em cho biết trên bàn có gì không ? Các hs sẽ trả lời: 
- Không có gì. Bạn lại hỏi: 
- Thế trên bàn có sách không ? HS sẽ trả lời: 
- Không ! 
Rõ ràng câu trả lời sau CÓ Ý THỨC HƠN. Cái "không" đó là Ý THỨC CỦA NGƯỜI HỌC SINH VỀ QUYỂN SÁCH. Và vẫn có khác biệt giữa 2 câu trả lời "không có gì" và "không".


DẪN CHỨNG:
Một nguời nguyên thủy lạc vào một khu rừng. Anh ta sẽ phải nếm thử tất cả các loại hoa quả để biết trái nào ngọt trái nào độc, ghi nhận rồi đặt cho chúng một cái tên và truyền cái tri thức ấy cho các thế hệ sau. 








KẾT LUẬN CHUNG:



Con số không:



- Đó là nguyên nhân khả kiến của một sự việc đã xảy ra.
- Hậu quả luôn đuợc biết truớc nguyên nhân (hay hậu quả khẳng định nguyên nhân).
- Mọi việc đều có nguyên nhân, hãy tìm, mọi việc đều có hậu quả, hãy "luợng".


Tri thức chính là những hậu quả hay kết quả thu đuợc trên con đuờng tìm tòi và phát triển của nhân loaị. Tri thức gồm những yếu tố chính sau : nó gồm có HÌNH, DẠNG, có TÍNH, CHẤT và CÁC LƯỢNG (Ở dạng sơ khai là những tiên lượng mơ hồ về những mức độ dẫn đến hậu quả hay kết quả.) Ta cũng có thể dùng sơ đồ sau: (Tạm gọi là "sơ đồ nhận thức"):



LƯỢNG: ở đây có thể hiểu là xác định nguyên nhân hay tăng cuờng kết quả, giảm thiểu hậu quả.
(từ tiếng Anh tương đương đúng nghĩa với từ "lượng" này là "conjecture = phỏng đoán, ước đoán". Tôi không dùng từ "quantity vì từ này cụ thể hơn từ "conjecture". Trước khi tính định lượng thì ít nhất ta cũng phải phỏng đoán, phỏng đoán cả về định tính lẫn định lượng).



                                                                    Cognitive outline

Theo sơ đồ trên thì "con gà" phải có trước "quả trứng", vì ta chỉ có thể biết con gà đẻ ra quả trứng chứ khó biết quả trứng sẽ nở ra con gì. Tuy nhiên khi bạn biết rằng đó là quả trứng gà (viết liền chứ không viết cách trứng - gà) thì trứng và gà hợp chung một chủ thể (gồm danh và tính từ). Như thế tức là:

NGUYÊN NHÂN CŨNG LÀ HẬU QUẢ NHƯNG =0.

Xin nêu một trường hợp khác. Chẳng hạn tôi hỏi bạn:

- Có lạc đà không ? Trả lời:
- Không ! (số lượng = 0).
- Bạn có đồng ý không ? 
- Không ! (Ý nghĩa của ngôn từ)

Cả hai câu hỏi đều xác định. Có biết mới trả lời. Nếu không biết bạn sẽ hỏi lại: - Lạc đà là gì ? Đồng ý việc gì cơ chứ ?

CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN VỀ NHẬN THỨC.

Nhận thức là điều thuờng xuyên có ở chúng ta, như hơi thở vậy. Có thể nói sống nghĩa là nhận thức. Nhận thức đuợc thể hiện và phát triển qua các buớc sau : 

1. Nhận thức qua giác quan: là hình thức nhận thức nguyên thuỷ. Như nghe, nhìn, ngửi nếm, rờ rẫm.
2. Nhận thức qua ngôn ngữ: Loài sinh vật nào cũng có ngôn ngữ riêng để thông tin cho nhau.
3. Nhận thức qua đơn vị: Chỉ con nguời mới có. Con nguời trao đổi vật chất. Chẳng hạn : đổi một con gà lấy một giạ thóc. Anh bán củi nhận thấy nhu cầu về củi bèn lên rừng chặt củi bán kiếm lời.
4. Nhận thức qua chữ nghĩa: Do luợng thông tin quá nhiều, nguời ta nghĩ ra một hình thức lưu giữ thông tin. Họ dùng các kí hiệu, sau hình thành chữ viết.
5. Nhận thức qua Nhân Văn: Nhằm bảo vệ những phẩm chất và văn hoá. Như bảo vệ một giống cây hay vật nuôi quí. Bênh vực lẽ phải và chính nghĩa. Giải phóng con người.

Tính chất: nhận thức mang tính nhân quả nên luôn có HƯỚNG (cho ý thức và hành động). Đó là một quá trình phát triển vào bên trong.


Đồ thị nhận thức: Ý thức và hành động là một vector tổng trên đồ thị nhận thức

NGUYÊN LÝ NHẬN THỨC.

Các quá trình nhận thức luôn tuân theo nguyên lý sau: 

- Các hình, dạng, tính chất luôn làm qui chiếu cho lượng.


 HIỆU ỨNG CÁC SỰ KIỆN.

Câu chuyện: 
Nhân dịp vào Xuân, các bộ lạc sống ven bờ một con sông bèn nhóm họp để bàn bạc việc hợp nhất để thành lập một quốc gia. Những người già nhất trong làng sau những lời chào hỏi xã giao, họ bắt đầu hỏi về tên tuổi để tiện việc xưng hô. Thuở ấy, cứ qua một mùa xuân, những bà mẹ lại bỏ một hạt dẻ vào một chiếc túi da của những đứa trẻ để tính tuổi của chúng. Và nhân dịp hội họp trọng đại này, các vị bô lão cũng mang những chiếc túi của mình để so sánh tuổi tác. Nhưng có hàng trăm vị bô lão nên việc so sánh tuổi để chọn ra một vị cao niên nhất cần khá nhiều thời gian. Thấy vậy, một vị bô lão liền đưa ra một sáng kiến, thay vì so sánh số lượng, ta hãy so sánh về trọng lượng vậy. Nhưng việc đo đạc cũng chưa đạt đến mức độ chính xác cần thiết. Những chiếc túi kia gần như có trọng lượng bằng nhau. Vị bô lão kia bèn kết luận : những chiếc túi kia chúng bằng nhau, và như vậy chúng ta có cùng độ tuổi, chẳng ai hơn ai, như thế chúng ta đều sinh ra trong một ngày. Rồi họ gộp chung những chiếc túi lại làm một để kết tình anh em. Từ đó phát sinh sự tích "bọc trứng nở trăm con".

Câu chuyện trên chỉ là một giả thiết thôi. Nhưng ta có thể rút ra một qui luật sau :

- Càng hướng về tương lai, các sự kiện trong quá khứ sẽ càng sít lại gần nhau.

Như tỉ số của những hàm bậc nhất khi x tiến về "+ vô tận", tỉ số ấy bằng 1. Xét về mặt tâm lý, dường như chúng có cùng một điểm xuất phát.

Thuyết tương đối đã chứng minh được sự tương đương giữa không gian và thời gian. Trong không gian có hiệu ứng những đường đồng qui, như hai nhánh đường ray dường như hội tụ tại một điểm ở phía xa, thì "hiệu ứng các sự kiện" cũng thế.

Trở về câu chuyện trên, nếu ta ngược dòng thời gian về quá khứ thì những vị bô lão kia họ là những đứa trẻ lớn bé có độ tuổi khác nhau. Và như thế thì các sự kiện lại tách rời.

Có lẽ đây là một trong những lý do khiến người ta thích học Anh ngữ . Tiếng Anh được chia làm 12 thì, 4 quá khứ, 4 hiện tại và 4 tương lai. Ở mỗi thời điểm của câu nói người nói luôn hướng về một sự kiện trước hoặc sau thời điểm ấy.

Con người luôn xác định thế và lực trong môi trường tự nhiên và cơ giới, đó là thế và lực xác định. Nhưng trong môi trường thông tin, thế và lực luôn được xác định bởi những "hiệu ứng các sự kiện" mới , ngoài những thuật toán và những cách thức thâm nhập có trật tự, còn vô số những khái niệm mới mà bạn có thể tự nghĩ ra và thực thi. Thông tin là vô số những sự kiện, và tại sao bạn lại không thể tạo một câu chuyện thần thoại cho chính mình ?

 CON NGƯỜI LÀ TOÁN TỬ TÁC ĐỘNG LÊN MÔI TRƯỜNG THÔNG TIN.

Những điều tưởng chừng như vô lý xưa kia như câu nói :- Tôi biết bạn ở đây nhưng không bíêt bạn ở đâu ? Bạn chẳng ở đâu cả nhưng bạn lại ở khắp nơi, là điều có thực khi bạn ngồi trước bàn phiếm được nối mạng. Việc bạn xác lập và truy cập cũng cần một số thao tác có trật tự. Cái đó khác nào bạn là một "toán tử" trong phương trình Schrodinger (phương trình hàm sóng của electron quanh hạt nhân nguyên tử H). Vế = 0 kia là xác định thế và lực, toán tử là những khái niệm thuật toán mà các lập trình viên ai cũng biết. Dĩ nhiên bạn cũng dễ dàng tìm kiếm thông tin xác định như tin tức, hình ảnh, số liệu. Và trong trường hợp này thì tri thức có thể được hiểu như "thông tin = ngôn từ" phục vụ cho nhận thức của bạn.

SỐ KHÔNG VÀ DẤU HIỆU HỌC.

Qua phân loại dấu hiệu học của D. Chandler tôi nhận thấy có mối liên hệ với số không. Trước hết ta hãy trở lại với bảng phân loại dấu hiệu trên.



Tôi sẽ lấy hình ảnh quả trứng để minh họa thêm sự phân loại trên.


Từ hình ảnh quả trứng ta lại trở lại với số không. 


Khi tôi viết chữ “trứng” thì tôi nghĩ đến quả trứng, chữ “trứng” đó là một biểu tượng (symbol). Có thể sau đó tôi lại muốn biết thêm là có bao nhiêu trứng. Khi tôi nhìn thấy quả trứng thì quả trứng đó là hình tượng (icon). Có thể tôi sẽ thắc mắc đó là trứng gì. Và khi tôi nhìn thấy quả trứng gà thì đó là mục tượng (index). Đấy chính là chất lượng (hay định tính). Như thế thì từ biểu tượng đến mục tương là chuyển từ định lượng sang định tính. Trứng bao nhiêu quả không quan trọng bằng việc trứng đó là trứng gì. Chất lượng quan trọng hơn số lượng, đó là điều ai cũng biết. Đây cũng là một quá trình nhận thức, nó đi từ bên ngoài vào bên trong. Nếu ta xét từ bên ngoài thì nhận thức là một quá trình phát triển vào bên trong. 

Trong diễn đạt trên khi tôi viết chữ “trứng” thì chỉ có ý nghĩ của tôi về quả trứng, vì thực tế không có quả trứng nào cả (số lượng bằng không). Khi tôi nhìn thấy quả trứng thực thì cũng tương tự như khi tôi viết chữ “trứng”, tôi sẽ có một “quán tính” trong ý nghĩ, là quả trứng đó sẽ dẫn ý nghĩ của tôi đến điều gì (cụ thể hơn, như việc bạn nhìn thấy bức tượng Nguyễn Du thì bạn nghĩ đến một Nguyễn Du “thực”vậy)? Và khi tôi nhìn thấy quả trứng gà thì dường như “quán tính”suy nghĩ của tôi dừng lại. Vì sao ? Vì sự tò mò của tôi đã được “lấp đầy”, đã được thỏa mãn. Ta cũng có thể hiểu tại sao cái gọi là nghệ thuật luôn thu hút và hầu như chẳng bao giờ thỏa mãn công chúng lẫn giới nghệ sĩ. 


D. Chandler đã không đề cập đến phẩm chất hay đặc tính của hình tượng hay mục tương. Ví dụ tôi nhìn thấy bức tượng bằng thạch cao, tôi nhìn thấy quả trứng (màu hoặc bằng) vàng thì đấy đều là mục tượng. Peirce cũng đã nêu “dấu hiệu mang tính mục tượng hướng chú ý đến đối tượng của nó bằng một sự cưỡng ép vô hình (blind compulsion)”, ở đây có thể là phẩm chất hay đặc tính nào đó của mục tương, và của cả hình tượng mà nó khiến hình tượng cũng bị lôi kéo về phía mục tượng. 

Ta xét thêm một trường hợp sau: bạn đi du lịch New York và đến tham quan tượng Nữ thần tự do. Chính tên bức tương này cũng đã nói lên tính chất biểu tượng của nó. Nhưng nếu như bạn chưa bao giờ nghe danh về bức tượng thì nhìn bức tượng bạn có thể nói nó giống một người nào đó. Trường hợp này bức tượng là hình tượng. Đặc biệt hơn khi bạn mô tả “đó là một bức tượng khổng lồ người cầm đuốc màu xanh” thì nó là mục tượng. Như thế cùng một dấu hiệu thì khác biệt giữa các phương thức (mode) dấu hiệu trên chính là lượng thông tin bạn có về nó. Lượng thông tin càng ít thì dấu hiệu đó càng gần với mục tương và ngược lại, thông tin càng nhiều thì nó càng mang tính biểu tượng, trung gian là nét tương đồng mang tính hình tượng. 

Kết hợp với những kết luận trên thì ta có thể nói: nhận thức luôn có hướng và là một quá trình phát triển vào bên trong, từ biểu tượng đến mục tương. Quá trình này làm giảm lượng thông tin không liên quan trực tiếp đến đối tượng mà ta cần nhận thức. Trừ khi dấu hiệu mang tính biểu tượng đó cần thiết cho nhận thức của bạn về một đối tượng khác mà nó thuộc về (như Nữ Thần tự do và nước Mỹ).

Có một sự lằng nhằng không phân định được giữa "không có gì" và "không" nhưng qua sự phân loại của Chandler thì ranh giới này lại nằm ở khái niện "hình tượng" (Icon). J. Derrida chưa thể định nghĩa được Giải cấu trúc một cách chính xác có thể là do sự bất phân định này. Nếu ta xem "không có gì" là một khái niệm như bất cứ khái niệm nào khác thì khái niệm này vẫn đúng với số không, vì ta có thể định nghĩa "không có gì" là: 

1 - Không có cái được kí hiệu cụ thể (no signified). 
- Không tham chiếu đến cái gì cả (no referent) 
- Không có nội dung gì cả (no content). 

Hoặc: 

2 - Tất thảy những cái đã được biết (all of the signifieds) 
- Tham chiếu đến tất thảy những cái đã được biết (all of the referents) 
- Chứa tất thảy nội dung đã được biết (all of the contents) 

3 - (như đã nêu): 

- Không có cái chưa được biết. 

Tóm lại “không có gì” là không có những cái đã được biết và chưa được biết đến. Giữa đã biết và chưa biết còn là một sự mơ hồ nào đó. 

Kí hiệu X xem chừng thích hợp, nó như một biểu tượng về một thứ “rào cản” nhằm ngăn chặn, xóa bỏ mọi cái mà kí hiệu có thể chỉ đến (cái được kí hiệu), và nó ngăn chặn luôn cả sự mơ hồ giữa biết và chưa biết. 

Sơ đồ so sánh: 



SỐ KHÔNG VÀ GIẢI CẤU TRÚC.

Tuy nhiên, trong phạm vi ngôn ngữ học, khi mọi dấu hiệu (hay kí hiệu) đều mang tính biều tượng thì tùy ngữ cảnh và cách diễn giải có thể hiểu các biểu tượng ngôn ngữ đó mang tính biểu tượng, hình tượng hay mục tượng hơn. Trở lại với câu chuyện nhà buôn Ấn độ thì từ “lạc đà” là một biểu tượng chỉ đến con lạc đà của nhà buôn.Từ “motor” tạo nên một quán tính của ý nghĩ, sau đó ý nghĩ dừng lại ở con ngựa và rồi một cái gì đó giống như con ngựa. Từ “motor” này mang tính hình tượng hơn. Để kí hiệu về số lượng lạc đà thì nhà buôn phải liên tưởng đến một mục tượng - hình ảnh trứng gà. Đó là một kinh nghiệm, nó mang tính nhân quả. Nhìn quả trứng ta có thể suy ra con gà và ngược lại. Một biểu tượng là kí hiệu “gà” có thể chuyển sang tính chất mục tượng là “trứng gà” và ngược lại, với kí hiệu “trứng”. Nếu chúng đều là mục tượng thì chúng có thể thay thế cho nhau, đại diện cho nhau. Ta cũng thấy rằng hình thức của số không cũng giống như quả trứng, vậy thì hoàn cảnh để phát minh ra số không có lẽ từ kinh nghiệm mà theo phân loại của Chandler thì nó thuộc phương thức mục tượng. Nói về kí hiệu “motor” thì tính chất hình tượng của từ này không lấp đầy được ý nghĩ của ta, vì ta chưa có kinh nghiệm thực chứng tức chưa tìm được mối liên hệ trực tiếp, mang tính nhân quả hay động học nào giữa motor và ngựa (vì khi đó chưa phát minh ra motor), và vì nó không mang tính mục tượng nên không thể dùng một trong 2 thứ đại diện hay thay thế cho thứ kia. Ta cũng không thể dùng quả trứng để kí hiệu cho motor, vì quả trứng chỉ có mối liên hệ trực tiếp với con gà mà thôi (hay chỉ được mở rộng thêm cho lạc đà). Đây cũng là một bằng chứng chứng tỏ dấu hiệu ngôn ngữ không hoàn toàn độc đoán mà nó dựa trên kinh nghiệm thực tế, dựa trên những mục tượng, và những con số là những đỉnh cao về tính biểu tượng. Số không từ dấu hiệu mang tính mục tượng là quả trứng gà phát triển lên thành một biểu tượng toán học vô cùng quan trọng. Khi con số không trở thành biểu tượng thì nó có thể là biểu tượng cho tất thảy về mặt số lượng và về mặt hiện diện. Chẳng hạn như khi ta bất chợt đọc chữ “lạc đà” thì ta có khái niệm về con lạc đà, như khi đối chiếu với ngữ cảnh đó thì chẳng có con lạc đà nào cả. “Không có” hay “không” là một biểu tượng cho sự vắng mặt này và con số 0 là sự rút ngắn của nó. Lạc đà là một biểu tượng, hơn nữa là một biểu tượng xác định, chính sự xác định này là điều kiện để ta định lượng nó. Trong khi “motor” là cái cần định hình và cả định tính nữa. Đó là điều kiện cho nhận thức. 



Trở lại với nguyên lý nhận thức trên, khi đó tôi chưa tìm hiểu về dấu hiệu học, suy diễn của tôi đưa đến một kết luận là nếu ta không biết hình, dạng, tính chất của bất cứ cái gì thì ta không thể làm các phép tính về nó. Về mặt dấu hiệu học, nhất là qua các phương thức của Chandler thì nguyên lý này mang tính hình tượng và mục tượng. Tuy nhiên, hình tượng hay mục tượng có thể là thực tế thuộc về bối cảnh hoặc được xây dựng nên bởi các dấu hiệu ngôn ngữ khác như: nói, viết, vẽ…Và tôi cũng không dùng từ “định lượng”(quantity) trong nguyên lý trên có lẽ lại hợp với các phương thức dấu hiệu, vì định lượng vẫn là hình thức cao nhất của dấu hiệu học. Chữ “lượng” tôi dùng với nghĩa rộng hơn định lượng hay số lượng, nó còn mang ý nghĩa “phỏng đoán”(conjecture), phỏng đoán về hình tượng hay mục tượng và để chỉ rõ nó còn có một quán tính của ý nghĩ. Với chữ “lượng”này ta sẽ có gắng lôi kéo hình tượng về phía mục tượng hơn. Quán tính của ý nghĩ này có thể tương đương với cái gọi là trì-biệt (différance) của Derrida. Trí tuệ con người không chấp nhận một biểu tượng độc đoán, cũng không thỏa mãn với một mục tượng hiển nhiên nào đó, nó luôn so sánh, kết hợp nhằm tìm kiếm những cái mới và khác biệt với cáí đã có. Chính J. Derrida cũng chưa thể định nghĩa được trì-biệt: trì-biệt theo nghĩa đen không phải là một từ hay một khái niệm (différence is literally neither a word nor a concept). Nếu tri-biệt là một từ thì nó mang tính biểu tượng, nếu là một khái niệm thì nó cố định và hoàn toàn xa rời ngữ cảnh. Mặt khác hình tượng là hình thức dấu hiệu cơ bản hơn biểu tượng (thuở sơ khai con người thường hay thể hiện các sự vật qua nét vẽ của họ trên vách đá), cho nên giải cấu trúc là tìm về tầng ngôn ngữ cơ bản đó, đồng thời với nỗ lực làm bật dậy một biểu tượng mới. Hoặc là các văn bản đều được xây dựng nhằm tạo một hình tượng và đó đã là điều xa rời thực chất vấn đề. Biểu tượng là cơ sở của logic hình thức, nhưng nghệ thuật mang tính hình tượng luôn có một sự kết nối nào đó. Trái với xu hướng lý tưởng hóa với các biểu tượng, người ta có thể tìm về một bản chất tự nhiên, tư nhiên như nhân chi sơ tính bản thiện, như nhận thức sơ khai nhất với những giác quan và đó là điều mà các nhà dấu hiệu học gọi là mục tượng. 

SỐ KHÔNG VÀ PHÂN BIỆT  LOẠI – PHIẾU (TYPE-TOKEN DISTINCTION) 

Loại (type) và từ phiếu (token) là phân chia giữa khái niệm và cụ thể của cùng một khái niệm của từ đó. Ví dụ như “lạc đà” là một danh từ chung chỉ đến một loài vật nói chung. Đó là từ loại (type). Song khi nghe đến lạc đà thì nhà buôn nghĩ đến những con lạc đà của mình. Những con lạc đà này xác định và cụ thể hơn nên thuộc về phiếu (token) của khái niệm lạc đà. 

Khi nói về ngựa-motor thì nhà buôn chỉ có khái niệm về một loại (type) ngựa nào đó. Trong thể loại này thì chưa có phiếu hay đối tượng vật lý cụ thể. Các khái niệm luôn tồn tại trong đó những câu hỏi, nó có một quán tính của ý nghĩ. Nếu không có khu biệt giữa loại và phiếu thì ta không thể định lượng về chúng được. Điều kiện để định lượng về một khái niệm là phải có đối tượng vật lý (physical object) hay phiếu (token) về khái niệm đó. Như có một sự xâm nhập của các từ phiếu ngược vào các từ loại để định lượng các khái niệm. Trường hợp “không có gì” thì không có đối tượng vật lý hay từ phiếu nên ta không thể xâm nhập các khái niệm. Tuy nhiên “không có gì”cũng là một khái niệm nên nó có thể trùng với khái niệm “có gì không”. Các kí hiệu “0” và “X” đều là từ loại, song chỉ có kí hiệu “0” vừa là loại vừa là phiếu, “X” là từ loại, không phải phiếu. Nhưng như thế có phải là mâu thuẫn với định nghĩa về phiếu không ? Theo Peirce thì X vẫn là một phiếu trong chuỗi kí hiệu ngôn ngữ, song chỉ là một khái niệm chưa có đối tượng vật lý.


TIẾN HÓA TỪ MÔ HÌNH NHẬN THỨC SƠ KHAI.

Có một mối liện hệ nào đó giữa mô hình nhận thức mà tôi đã trình bày với mô hình dấu hiệu của F. de Saussure.Chứng minh mối quan hệ này có thể thào gỡ nhiều vướng mắc về dấu hiệu học.








Điều này có ý nghĩa gì ? Ý nghĩa hết sức to lớn, nghĩa là các dấu hiệu ngôn ngữ học không có nguồn gốc độc đoán mà từ hiện thực, tiêu biểu của hiện thực và vận động chính là tính nhận quả của những sự việc.Cơ sở tính nhân quả của dấu hiệu này sẽ giúp giải thích một số vấn đề hiện đang bàn cãi hoặc những nhận định chưa được chứng minh.




Phan Bien.
 (còn đang nghiên cứu)