Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

ĐÁNH VẬT VỚI THUẬT NGỮ TRIẾT

Có một bài viết của ông Bùi Văn Nam Sơn trên triếthoc về Deleuze. Tớ nhặt nhặnh một số từ:

Rhizome: ông Nam Sơn dịch là Kết Chuỗi. Tớ thấy từ này chưa chính xác lắm, nhất là trong phần Giới thiệu: Thân rể (Introduction: "Rhizome") của Deleuze. Ở phần này Deleuze đi từ những hiện thực tự nhiên như Cao Nguyên, cây cỏ, ong, hoa, chuột, mèo, khỉ, máy móc, người du cư ...rồi mới nhấn mạnh vào thân rễ cùng những đặc tính kết chuỗi của nó. Tại sao Deleuze ở xứ hoa lệ không chọn một từ hàn lâm hơn cho ý tưởng của mình? Tôi cũng khá quen thuộc với cái gọi là thân rễ: cỏ tranh, tre rừng, khoai mì nên tôi thấy dễ hiểu hơn cái đặc tính "kết chuỗi". Có một từ mà tôi nghĩ nó được nâng lên mức hàn lâm từ Thân rễ này: 

Rhizomorphism

Tôi đề nghị dùng từ Thế Luận, và một từ phát sinh từ ý tưởng thân rễ Deleuze:

Rhizomatic learning: Thế Học 

Tôi nghĩ tính chất cơ bản của thân rễ là lan theo Thế hơn, không như thân cây chỉ có một cách là vươn lên cao.

Từ tiếp theo của ông Nam Sơn là:

Đa thể

Như Deleuze đã giới thiệu thì thân rễ chỉ là hình ảnh ẩn dụ cho những ý tưởng trừu tượng hơn của Deleuze, trong có từ Multiplicity. Tôi nghĩ bản thân từ "thân rễ" cũng đã nói lên tính chất đa hình thể của nó rồi. Còn bên trong thì Deleuze mở rộng hơn là thân rễ có thể thay đổi về bản chất (như củ nghệ mà thành của riềng vậy). Hơn thế nữa, vấn đề còn liên hệ đến bệnh tâm thần phân lập nữa. Bệnh TT phân lập là gì? Là Đa Tính Cách. Làm thế nào để biết một người là đa tính cách? Không phải là họ chỉ việc thay vài bộ cánh rồi chụp ảnh. Đa tính cách phải thể hiện qua cách hành xử mỗi lúc mỗi khác. Deleuze cũng đã có cái gọi Mặt Phẳng Nhất Quán (hay mặt phẳng nội tại). Khi một multiplicity tìm được một thế, nó biến đổi bản chất, nghĩa là multiplicity có một THẾ CÁCH trước khi biến sang một thể khác, nó kiếm cách trước khi biến thể. Hơn nữa triết học Deleuze không có chủ thể lẫn khách thể ("...một cuốn sách không có chủ thể lẫn khách thể - Giới thiệu: "Thân rể") thì làm sao có thể có Đa Thể ở đây (!!??). Theo cách hiểu nông cạn này của tôi thìmultiplicity nên gọi là:

Đa cách

Từ tiếp theo của ông Nam Sơn là:

“thụ hưởng sự khác biệt” (jouissance de la différence)"

Chữ "thụ hưởng" ông Nam Sơn dùng ở đây chưa đúng lắm. Khổ dâm cũng là jouissance. Tôi đề nghị dùng từ:

Phức khoái

Một đoạn khác:

"Nietzsche trả lời câu hỏi này bằng một thứ loại hình học (typologie) phức hợp về người giáo sĩ Do thái giáo..."

Tôi nghĩ từ "địa hình học" thích hợp hơn, trong ngữ cảnh người du cư nói chung và thú du lịch của Nietzsche nói riêng...

Chính tôi cũng tiếp cận Triết học theo lối thân rễ, nghĩa là chẳng có đầu đuôi gì cả...Tuy nhiên tôi vẫn cần nhiều thời gian để cân nhắc về các thuật ngữ của ông Nam Sơn.

Còn đây là tôi tiếp tục thực nghiệm một cách học lấy ý tưởng từ Deleuze: SẮP ĐẶT Ý NGHĨA. Đây là tổng kết một số vấn đề về dấu hiệu học. Sơ đồ này cũng tổng kết những gì Derrida đã chứng minh trong Văn Tự học (Of Grammatology) về tính chất tương đương giữa lời nói (speech) và văn bản (writing), không có ranh giới chia bên trong và bên ngoài:


Thuật ngữ từ tiếng Anh:

Sign: dấu hiệu
Symbol: biểu tượng là từ mà Langer dùng để chỉ ngữ hiệu.
Linguistic sign: Ngữ hiệu
Vehicles for the conception of objects: phương tiện biểu lộ khái niệm về đối tượng
Sound: âm thanh.
Thought: tư tưởng
Sound pattern: khuôn âm.
Concept: khái niệm
Written word: từ viết
Spoken word: từ nói
Signifier: kí hiệu (hay biểu đạt)
Signified: thụ hiệu
Grapheme: tự vị
Phoneme: âm vị
Arbitrary: võ đoán
Autonomy: tự trị
Object: đối tượng.

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

THƯ PHÁP QUỐC NGỮ

Tổng hợp các bài viết của tôi trên một trang mạng năm ngoái:








Đi dạo một vòng thấy tình hình Thư Pháp vẫn vắng lặng, chẳng có tranh cãi hay lý thuyết gì mới cả. Cũng cách đây hơn thế kỷ, Max Plank đã đưa ra khái niệm lượng tử ánh sáng giúp khai thông những bế tắc của vật lý cổ điển, mở đường cho cơ học mới. Một cách tương tự, tôi cũng không ngại nói rằng tôi đã đặt những nền móng, cơ sở lý luận cho thư pháp chữ Quốc Ngữ, và gần một năm nay chưa thấy ai phản biện cả. Có lẽ họ cần những điều thuyết phục hơn, cần tôi phải trình bày, phải thi triển, thậm chi phải ...tuyên chiến với những lối viết thư pháp hiện hành. Nếu thế thì khác nào đòi Einstein phải đích thân chế tạo quả bom A thì ông mới thuyết phục được cộng đồng khoa học (!?). Tuy nhiên Thư Pháp cũng chỉ là một thú chơi, và tôi mong rằng những người yêu thích chữ Việt không quá đố kị, hẹp hòi với những sáng kiến mới...Và dù sao đi nữa tôi vẫn luôn để tâm đến Thư Pháp, luôn tìm kiếm những giải pháp cho những bế tắc trên con đường do chính mình vạch ra... 

Trước hết tôi xin tổng kết lại những nhận định cơ bản về thư pháp chữ Quốc Ngữ: 

1 - Mang tính thao tác, tức thuận tay. Tôi có thể nói bất cứ chữ hay câu văn nào mà bạn viết thuận tay đều đẹp và ngược lại, và mệnh đề đảo ngược quan trọng hơn: chữ đẹp là phải thuận tay. Các bài trước tôi đã thử viết nhiều chữ và chỉ những chữ thuận tay mới "xem được", còn lại thì vẫn bế tắc. Bạn có thể phá bỏ mệnh đề này không? Theo tôi thì không thể.

2. Thư pháp Quốc Ngữ phải xóa tính cách ngữ âm của chữ viết, nghĩa là ta phải giải phóng ngôn ngữ, giải phóng âm tiết khỏi hình tiết, âm vị khỏi tự vị để khoác lên chữ hay câu văn một hình thức mới (lời nói phụ thuộc chữ viết). 

3. Bố cục. Đây mới là điều khó nhất về mặt luyện tập. Trước tôi có nhận định là "tự do bố cục sao cho xem được". Giờ thì tôi thấy rằng bố cục tự do chỉ áp dụng hạn chế, đối với các câu văn dài thì buộc bạn phải viết sao cho ngay hàng thằng lối. Giữ được điều này là khó nhất của Thư Pháp chữ Quốc Ngữ. 

4. Sáng tạo: những kí hiệu mới. Nếu các chữ Quốc Ngữ mà bạn cảm thấy rằng viết khá "trái tay" thì bạn có thể nghĩ ra kí hiệu thay thế sao cho vẫn giữ được đại ý của chữ đó. 

5. Chuẩn mực và phóng túng. Phóng túng đơn giản chỉ là một độ nghiêng so với chữ chuẩn mực (hãy xem thư nghệ Hàn). 

Đây được xem như 5 tiêu chí đối với thư pháp Quốc Ngữ. 

Lý thuyết cơ bản nhất là tư duy của bạn khi nhìn nhận một hiện tượng, sự việc. Bất cứ thứ gì bạn nhìn thấy đều mang một ý nghĩa theo Dấu Hiệu Học (Semiotics) nào đó. Tôi chia những gì bạn nhìn thấy thành 2 loại, một loại hoàn toàn tự nhiên (và ngẫu nhiên) và một loại có sự can thiệp của con người. Loại thứ nhất không bàn, còn loại thứ hai thì tôi cho rằng một sự vật hay hiện tượng có sự can thiệp của con người thì sự can thiệp đó hoàn toàn có chủ ý, có ý thức và dĩ nhiên nó chịu sự chi phối của trí tuệ. Ví dụ đơn giản là 3 hòn sỏi nằm ở ba vị trí tương đối như hình sau: 



Trong ba cách sắp đặt trên thì bạn dễ dàng nhận biết cách thứ 2 và 3 mang tính trí tuệ hơn, nghĩa là nó mang một ý nghĩa dấu hiệu học nào đó, còn cách thứ 1 có vẻ ngẫu nhiên hơn. Nếu ta xét kỹ cách 2,3 thì ta sẽ nhận thấy các vị trí của những viên sỏi có vẻ tạo nên một đường thẳng hoặc trông cân đối hơn cách 1. Đó chính là một trong những biểu hiện cơ bản nhất của trí tuệ. Ta cũng có thể kết luận: bất cứ thứ gì mang tính trí tuệ đều như thế và nó được mang một cái tên phổ biến hơn: văn hóa. 

Bây giờ ta xét đến vài ví dụ nữa. Bạn có thể chia một đường loằng ngoằng uốn lượn trong tự nhiên thành những thành những phân đoạn và kết hợp chúng lại thành một dấu hiệu mà bạn có thể gán cho chúng bất cứ ý nghĩa nào.


Hoặc hài hòa hơn





Trong các cách phân chia và sắp đặt như trên thì ta nhận thấy có ba loại đường nét cơ b 

- Nét thẳng (hay cứng, đậm) 
- Nét cong (hay mềm, nhạt)
- Chấm phá (kết hợp giữa 2 nét trên). 

Tôi cho rằng đây chính là ba nét cơ bản nhất của bất kỳ bức thư pháp nào, Hán, Nhật, Hàn. 

Tương quan giữa các nét mềm - cứng - chấm phá cũng tương ứng với tốc độ viết. Theo tôi thì: 

- Nét mềm thường viết với tốc độ nhanh. 
- Nét cứng với tốc độ vừa, và 
- Nét chấm phá với tốc độ chậm hơn 2 nét trên. 

Việc phối hợp các nét mềm, cứng, chấm phá trong một bức thư pháp cũng giống như việc bạn triển khai một thế võ hay bài quyền, nhất là Karate-do hay Taekwondo... 

Có sự tương quan khá nổi bật giữa thư pháp và võ thuật của một số nước: 

Thiếu lâm biến hóa huyền ảo (ảnh nét)

Akido với xảo thuật bàn tay (ảnh nét)

Teakwoodo với đòn chân (ảnh nét)

Trong bài viết trước tôi có đưa ra một khái niệm, đó là "đơn vị thao tác", tương đương với âm vị trong phát âm. Trong ngôn ngữ dấu hiệu (sign language), các thao tác hay dấu hiệu bằng tay vẫn có ý nghĩa và đó là ngôn ngữ của người câm điếc. Điều này cũng chứng minh các thao tác thuộc về ngữ học và nó khá hữu ích trong việc kiến tạo ngữ hiệu, cụ thế là viết Thư Pháp. Ở bài phân tích trước, tôi chỉ dừng lại ở mức tự vị (grapheme), song những bế tắc đã buộc tôi phải đi sâu hơn nữa, phá vỡ cấu trúc tự vị. Mục đích của việc phá vỡ này cũng chỉ nhằm đạt được một sự thuận tay nào đó, và cũng bằng việc phá vỡ này chúng ta chỉ còn lại...3 nét cơ bản như đã nêu: cứng, mềm, và chấm phá. Sự thuận tay đóng vai trò "cầu nối" giữa các đơn vị thao tác cơ bản này. Hiểu theo cách này thì viết thư pháp chỉ là việc tổ hợp 3 đơn vị thao tác cơ bản: 

1) Cứng - (thuận tay) - mềm. 
2) Mềm - (thuận tay) - chấm phá. 
3) Chấm phá - (thuận tay) - cứng. 

Chữ Hàn chẳng hạn, khá đơn giản, nổi bật với những nét thẳng đậm. Tuy vậy khó khăn lại ở ngay chính những nét thẳng đó. Nếu bạn nhìn lên biểu đồ tôi đã nêu thì thư pháp Việt cùng hướng với thư nghệ Hàn. Khi tôi cố gắng viết sao cho ngay hàng thẳng lối tôi cảm thấy như chuyển trọng tâm sao cho cân bằng hơn. Các lối viết thư pháp Việt hiện hành thường quá bay bướm và điều này khiến nó đánh mất trọng tâm. 


Theo tôi thì các nét ngang (như chữ "t") thường đóng vai trò "giữ cân bằng" cho toàn bộ bố cục (nếu viết theo chuẩn mực ngay hàng thẳng lối). Điển hình nhất là chữ "Tâm", chữ TÂM mà có nét ngang quá cao tôi xem đó như biểu hiện của "kiêu chí", mà kiêu chí nghĩa là "không có tâm" vậy... 

ảnh từ nét 

Nét ngang của chữ "t" theo tôi chỉ độ khoảng 1/3 chiều cao so với nét thẳng (trong câu văn dài).. 

Một kĩ thuật rất then chốt để viết thuận tay là tạo những "nét nghịch". Chữ Quốc Ngữ chính tắc không những tuyến tính về không gian mà còn tuyến tính về mặt thời gian, song chính sự tuyến tính về mặt trật tự theo thời gian khi viết đã quyết định tính tuyến tính về mặt không gian, nét chữ như xuôi theo chiều từ trái sang phải, ta luôn có cảm tưởng như bị lôi cuốn theo chiều hướng này. Hầu hết các kí tự (tự vị) đều được bắt đầu viết từ trái sang phải kết hợp với những trường hợp riêng biệt (như chữ "s") đã tạo nên "hiệu ứng trái tay". Tuy nhiên một số chữ có kí tự (tự vị) được viết kết hợp với những nét nghịch (như chữ "X") lại được viết khá thuận tay. Để triệt tiêu hiệu ứng trái tay này, bạn phải sử dụng một "nét chuẩn" (nét thẳng là thuận tiện nhất), ví dụ như chữ "d", ta sẽ vạch một nét thẳng, sau đó lại vạch một đoạn cong từ phải sang trái, tuy nghịch tay nhưng lại tạo thuận tiện cho kí tự kế tiếp, hoặc chữ "X" (vạch từ phải sang trái trước). Việc tạo nét nghịch sẽ bẻ các kí tự thẳng đứng hơn, giúp các chữ trở nên độc lập hơn. Tôi có thể định nghĩa nét nghịch là những nét vạch từ phải sang trái tiếp sau các nét khác. Có hai cách tạo nét nghịch: 

- Thay đổi trật tự viết các nét của cùng một kí tự. 
- Sáng tạo các kí hiệu khác thay thế. 

Chữ Quốc Ngữ chuẩn mực mà tôi thường thấy trong các cuộc thi viết chữ đẹp thường được viết bằng loại bút máy đặc biệt (gọi là bút thanh đậm). Đúng là loại bút này khá thích hợp với kiểu chữ chuẩn phổ thông, khi viết nét kéo xuống là nét đậm và nét hất lên là nét thanh. Nhưng, như đã nêu, tính chất tuyến tính theo thời gian khi viết như cuốn hút người viết theo chiều hướng này vậy, cộng với việc giữ nét thanh đậm lên xuống, cộng với việc giữ đúng dòng kẻ đã buộc người viết phải nắn nót từng chữ, do đó tốc độ viết giảm. Tôi có thể gọi lối viết chữ đẹp này là lối viết chữ hoàn toàn thuần túy, nó phụ thuộc vào những yếu tố bên trong của người viết. Chữ viết còn lệ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài khác nữa, chúng tác động đến tâm lý và tạo ra tâm trạng cho người viết. Tôi có thể ví việc viết chữ chuẩn mực phổ thông như chèo thuyền xuôi theo những con lạch, dòng sông mà khi ra đến đại dương còn có cả sóng to gió lớn nữa, và chẳng có lề lối nào cả. Thử hỏi, bạn gặt hái được gì sau khi ra trường, hòa nhập với cuộc sống ? Cuộc sống sẽ chẳng còn những dòng kẻ nhưng nó buộc bạn phải tuân theo những dòng kẻ vô hình của chính bạn. 

Thay cho nét hất ngược, tôi khuyến khích nên sử dụng nhiều nét ngang và nét nghịch hơn. 

Giữa "thư pháp" và "đồ chữ" có những khác biệt nào đó không ? Nếu nói về "thư pháp" thì ai cũng đã từng đi học và cũng đã từng phải viết theo phương pháp rồi. Nói về mặt "đồ chữ" thì các nhà thư pháp nổi tiếng cũng đã tốn hao bao nhiêu là giấy mực, chỉ để lặp đi lặp lại những con chữ. Vẫn có khác biệt, chính khác biệt này tạo nên các "ông đồ" mà chỉ thấy ở VN. Có thể nói mọi học sinh VN khi ra trường đều dễ dàng trở thành những nhà thư pháp, chứ "thầy đồ" thì buộc họ phải trở lại với cấp 1, phải đồ từng nét chữ cho quen tay. Khi xưa do thói ích kỉ của giới Nho sĩ muốn nâng chữ Hán lên một mức quá cao mà họ đã không thể phổ biến hay sáng tạo nên một loại chữ riêng cho người Việt, giới bình dân đã gọi họ bằng cái tên khá chính xác là những "ông đồ", tức chỉ lặp đi lặp lại những vốn liếng chữ Hán của họ (kiểu như gọi bọn "trưởng giả học làm sang"). Những người viết thư pháp chữ Quốc ngữ ngày nay vẫn cứ giữ nguyên xi cái tên "ông đồ" có phần mỉa mai ấy. Thế cho nên các cuộc thi viết chữ đẹp phải có 2 dạng, một cho bậc phổ thông (viết trên vở học sinh có kẻ) và một cho những người trưởng thành (viết trên giấy không có đường kẻ). Cả 2 dạng trên đều có thể dùng nhiều loại bút đa dạng. Tôi có thể định nghĩa "thư pháp chữ Quốc ngữ" là lối viết "vượt lên trên những đường kẻ", vượt lên trên cái việc"đồ chữ" và đạt độ khinh khoát tự nhiên tức chuyển tải được tư tưởng người viết hơn là ngữ nghĩa, mà tư tưởng con người thì vô cùng đa dạng, không có chữ nghĩa nào có thể chuyển tải hết được. Nỗ lực của tôi ở đây cũng nhằm tách biệt khái niệm thư pháp khỏi khái niệm "ông đồ" và tách biệt thư pháp chữ Quốc ngữ khỏi khái niệm "bút lông mực tàu". 

Tôi thích những bảng hiệu hay quảng cáo với phong cách hoàn toàn mới như thế. Trong cái nguệch ngoạc vẫn có chút đường nét, trong cái vô lối vẫn có những nỗ lực kiến tạo một trật tự. Dường như có những nghịch lý về thư pháp. Khi bạn cố gắng tạo những đường nét thì nó lại trở nên nguêch ngoặc, cố gắng theo lề lối thì lại trở nên vô lề lối. Tôi viết hàng chục, hàng trăm bức chữ mới được một bức vừa ý (có thể là đôi lúc cũng "xuất thần"). Không phải tôi đồ từng con chữ, có thể tôi lại quay lại nhận định, là hãy phóng túng để kiến tạo một trật tự, một trật tự ngẫu nhiên càng hay. 

Buổi sáng tôi đi một vòng, lục tung các hiệu sách, tìm được 3 cây viết máy, một cây mà tớ hay viết hồi còn cấp 2 và một cây loại mới, một cây viết thanh đậm. Phải tập viết lại sao cho thẳng hàng (gọi là chuẩn mực), lối viết này có đặc điểm là ít phụ thuộc vào tâm trạng người viết. Chiếc bảng da thì tôi mua một hộp sơn xịt tráng lên một lớp. Tôi phát hiện một loại phấn viết bảng cứng như đá, gọi là phấn viết chữ đẹp. Tôi cũng viết thử. Ôi chao ! Phải dùng lực bàn tay hơi mạnh (sẽ mau mỏi). Bảng da của tôi được gia cố thêm một lớp sơn thì chỉ cần dùng phấn thường lướt nhẹ, lại dễ lau nữa, tha hồ luyện chữ. 

Chữ viết phát triển lên từ Dấu Hiệu Học (Semiotics)Thư pháp chính là đỉnh cao của chữ viết. Các quá trình dấu hiệu học phát triển theo qui luật đi từ Mục tượng (Index) đến Hình tượng (Icon), tiến đến Biểu tượng (symbol) là hình thức cao nhất. Các biểu tượng kết hợp lại để hình thành nên chữ viết. Một số thư pháp chữ quốc ngữ lại đi ngược lại xu hướng này, nghĩa là từ biểu tượng thoái triển về hình tượng. Chữ Hán "sơn-thủy" là "núi-nước" chẳng hạn, từ hình tượng ban đầu mang hình "3 quả núi" và "dòng nước chảy", phát triển lên thành biểu tượng như bây giờ, chúng trở nên trừu tượng hơn. Theo cách hiểu này thì Thư pháp phải trên Thư họa một bậc ("nhất chữ, nhì tranh" mà lại). Cần phải thừa nhận Thư pháp thuộc về Ngữ học, các biểu tượng phát triển lên thành các câu cú, tức ngữ pháp, khi đã phát triển lên thành ngôn ngữ thì chữ viết lại trở thành một thứ dấu hiệu tổng quát hơn, tích hợp nhiều yếu tố hơn. 

Thư pháp là khoác lên một nội dung một hình thức. Chúng ta phải lưu ý là hình thức này mang nhiều ý nghĩa phong phú hơn chính nội dung đó, chữ viết thông thường chỉ chứa đựng nội dung cần truyền tải, và với thư pháp chữ Quốc ngữ càng không nên để hình thức phụ thuộc vào nội dung. Hãy cố gắng phân biệt giữa "chữ viết phụ thuộc lời nói" (Aristotle) và "lời nói phụ thuộc chữ viết" (J.Derrida). 

Tiến triển lên một bước là diễn đạt một nội dung theo ý mình, tức từ mức BIỂU TƯỢNG sang mức ngữ pháp. 

Tôi đã cố gắng tối giản chữ Việt sao cho thuận tay với 3 đơn vị thao tác cơ bản và đã dẫn đến một dạng viết tương tự chữ Hàn quốc (có thể nói chữ Việt có đủ 3 đơn vị thao tác cơ bản, còn chữ Hàn trông khá thô vì hầu như chỉ có những nét dọc và ngang). 

Một ngày chủ nhật cặm cụi cũng đi được một chặng đường kha khá... 

Tôi làm ở khu công nghiệp một thời gian, tập viết chữ tàu nguệch ngoặc, rồi lại dịch J. Derrida, hai việc này đã dẫn tớ đến với Thư pháp. Nếu Typography thuộc về Cấu trúc luận, xem những chữ cái Latin như những viên gạch thì Thư pháp chính là Giải cấu trúc (xin tái khẳng định điều này), là đi vào chiều sâu, là hủy-tạo. Năm thể chữ Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo là một quá trình hủy-tạo, nhà Thư pháp đúc kết được điều này và lại thể hiện nó qua từng thể chữ 

Có thể Thư pháp Việt là sự kết hợp giữa Typography và Thư pháp, giữa chiều sâu và kĩ thuật hiện đại... 

Thật bất ngờ là chữ viết của người Nhật cũng là thể giản hóa (Thảo Thư) của Khải Thư chữ Hán. Nếu khi xưa các nhà Nho Việt Nam cũng làm điều tượng tự để tạo lập nên chữ Nôm thì chúng ta đã chẳng phải vây mượn chữ Latin. Chữ Nôm của các cụ xem ra lại rườm rà hơn cả chữ Hán. Các nhà Thư pháp chữ Quốc ngữ ngày nay cũng lại làm điều tương tự đối với chữ Latin. 

Chữ Hán và Nôm tương ứng 

ảnh từ nét 

Các bước giản hóa chữ Hán thành chữ Nhật hiện nay. 

ảnh từ nét 
Chữ Hán gồm có 8 yếu tố cơ bản (hay 8 nét cơ bản). Tổ hợp các nét này sẽ được khoảng 4.000 chữ: 

ảnh từ nét 

Chữ Quốc ngữ của chúng ta được xếp vào dạng xoay tròn (Vietnamese rotation). Về Thư pháp thì tôi nghĩ chúng ta có thể kết hợp tính chất tượng thanh của chữ Latin, sự đơn giản của chữ Hàn quốc và tối giản của chữ Nhật. Thư pháp chữ Việt chỉ gồm 3 yếu tố cơ bản như đã nêu. Theo xu hướng này thì chữ Việt sẽ có xu hướng thẳng hơn, tức chuyển dạng "Vietnamese Rotation" thành "Vietnamese Right"!!! 

Làm thế nào để có sự tương thích, tính kế thừa giữa chữ viết phổ thông và cái gọi là Thư Pháp quốc ngữ và giữa các loại bút trong đó bút lông mực tàu là một trường hợp đặc biệt ? Chữ viết phổ thông từ bắc vào nam đều thống nhất cùng một kiểu chữ và được xếp vào dạng tròn xoay (rotation), tôi đang cố gắng tạo nên một kiểu chữ quốc ngữ trung gian giữa chữ phổ thông và Thư pháp và giữa các loại bút. 

Ngòi bút máy cứng nhọn lại có thể tạo nên nét chữ đều đặn mềm mại. 

ảnh từ nét

Và ngòi viết lông mềm oặt lại có thể tạo nên những nét thẳng và góc cạnh. 

ảnh từ nét 

Các thử nghiệm của tôi đã dẫn đến 2 dạng Khải Thư Việt, một dạng đầy đặn mạnh mẽ (chữ cao nhất gấp đôi chữ thấp nhất, như chữ "t" và "a"), và một dạng thanh mảnh (tỉ lệ cao nhất - thấp nhất là 3/1). Viết bằng phấn trên bảng da hay bằng bút máy trên giấy khá thuận tiện 


Tôi chưa biết phải xếp Thư pháp Việt vào dạng nào, vì chưa thể đặt chữ Việt vào các ô vuông như chữ Hán, Nhật, Hàn. Nói chung là phải góc cạnh hóa chữ Latin. Tạm thời thì Khải Thư Việt có dạng bậc thang hay chữ Z nằm ngang. 

   
Có thể xắp hình tượng như vầy: 


Ô vuông ngoài cùng là Typography, tượng trưng cho kỹ thuật và mỹ thuật liên quan đến chữ viết, vòng tròn màu xanh là Calligraphy, đặc trưng cho chữ Latin xoay tròn và trong cùng là ô vuông Thư pháp. Typography là phát triển ra bên ngoài còn Thư pháp là đi vào chiều sâu. 

Chữ Latin viết không dấu sẽ dễ dàng và liên tục hơn, do đó nét chữ đều đặn hơn. Khi áp dụng vào chữ Quốc ngữ thì chính các dấu thanh sẽ ngắt quãng dòng viết. Đây là một trở ngại đáng kể trong việc luyện chữ đẹp của học sinh phổ thông và là một lý do chính đáng để chúng ta tìm kiếm một dạng chữ thích hợp hơn. 

ảnh từ nét 

Rất ít học sinh giữ được tác phong viết như vầy: 

ảnh từ nét 

Xin lưu ý hiện nay có rất nhiều phông chữ Quốc ngữ, tất thảy các phông chữ này đều thuộc loại Typography cả, nghĩa là tác giả dùng kỹ thuật vi tính để thiết kế và không thể dùng bút mực các loại hay dùng phấn để viết được. Ở đây thì Thắng tôi đã thử nghiệm bằng viết máy và phấn (viết trên bảng da) rồi mới dùng photoshop chỉnh sửa đôi chút. Tôi không muốn dùng vi tính để thiết kế một phông chữ riêng, sợ rằng sẽ xa rời dần cây viết, viên phấn... 

Một nguồn wiki có ví dụ khá chi tiết về các giai đoạn phát triển chữ Hán mà tớ tổng hợp được. 

ảnh ghép từ nét 

Hình 1 là Giáp cốt văn, loại chữ được khắc trên mai rùa hay xương, loại chữ này mang đậm nét hình tượng (Icon). 
Hình 2 là Kim văn, chữ thuộc thời kỳ đồ đồng, nó đã được lược bới một số nét, tính hình tượng vẫn còn. 
Hình 3, 4 là Đại triện và Tiểu triện, các nét tròn được thay dần bằng các nét thẳng. 
Hình 5 là Lệ thư, có lẽ thời kỳ này đã có những cải tiến về bút và mực nên nét chữ trở nên đậm và mềm mại hơn, hầu như không còn tính hình tượng. Đây là bước tiến quan trọng từ hình tượng lên biểu tượng (symbol), như chữ Mã trên thì bốn chân được biểu tượng hóa bằng bốn dấu chấm, các dấu tròn cũng biến mất. Giai đoạn này cũng ghi nhận sự tiến triển tự nhiên của dấu hiệu ngôn ngữ học (từ hình tượng lên biểu tượng), nằm ngoài ý chí chủ quan của Tần Thủy Hoàng (thiên vị chữ Triện hơn)...Việc giản hóa chữ Triện thành Lệ đã giúp tốc viết tăng lên (theo cách hiểu của tớ là viết nhanh thì phải sắp xếp các nét chữ sao cho thuận tay). 

Hình 6 là Khải thư, đây là chữ Hán chuẩn mực đã cố định đến ngày nay, tuy nó còn được giản hóa hơn nữa qua Hành thư (7) và Thảo thư (8), và dạng giản thể (6') trong thời kỳ hiện đại. Tớ thì cho rằng sự tiến bộ về mực và bút lông cũng đóng góp đáng kể vào sự phát triển của chữ Hán. 

Một vấn đề nữa là bên cạnh xu hướng tối giản khá tự nhiên của chữ viết nói chung (tri thức tăng do đó đòi hỏi tốc độ viết phải tăng) thì sự tối giản này tạo thành một thói quen có tính chất hoàn toàn phi tự nhiên, nó phụ thuộc vào ý chí chủ quan con người, nó trở thành võ đoán (arbitrary). Chính việc này ngăn cản chữ Hán tiến lên một bước nữa hoàn toàn thoát khỏi hình tượng nghệ thuật để trở thành biểu tượng thuần túy (tượng thanh). Tuy nhiên, sự lấp lửng này đã trở thành nét văn hóa đặc trưng Trung Hoa là Thư pháp. Tôi phân tích điều này là để chúng ta thấy được một phần thói quen đã trở thành thói bảo thủ qua việc tập luyện thư pháp, nó kiềm hãn sự linh động sáng tạo của chúng ta trong những công việc liên quan đến nhiều loại chữ viết trong đó có chữ Quốc ngữ, nó giống như việc bạn quen lái xe tay lái thuận (bên trái) nên thấy khó khăn khi phải chuyển sang tay lái nghịch vậy. Có thể quan sát được điều này qua ví dụ điển hình sau: 


ảnh từ nét 

Như ta thấy, rằng các dấu tròn hoàn toàn biến mất trong chữ Hán, còn chữ Hàn quốc thì vẫn sử dụng. Cả 2 loại chữ trên đều được viết bằng bút lông mực tàu. Trong chữ "Beijing 2002" bạn sẽ dễ dàng nhận thấy sự "trái tay" của người viết qua việc thể hiện các chữ Latin bằng bút lông, nhất là các số "0". Với chữ Hàn thì hình tròn được viết khá đều, khá tròn trịa. Đây cũng chính là vấn đề được đặt ra khi ta muốn dùng bút lông mực tàu để thể hiện chữ Quốc ngữ, bên cạnh việc cần phải tối giản loại chữ này... 

... Giờ ta ôn lại các bước phát triển của chữ Quốc ngữ. 

Giai đoạn thứ 1, khoảng đầu thế kỉ 17 cho đến khi có tự điển của A. de Rhodes (1651), điển hình đã có một số văn bản của Giáo sĩ João Rioz soạn năm 1621 có một số phiên âm tiếng Việt không có dấu giọng: Annam (An nam), Sinoa (Xứ Hoá/Huế), Unsai (Ông sãi), Cacham (Cả chăm), Ungue (Ông nghè), Ontrũ (Ông trùm)…. Có thể là sau đó A. de Rhodes đã kết hợp việc ghi âm bằng chữ Nôm và đơn giản chỉ thay thế các chữ Hán bằng các chữ Latin để biên soạn cuốn tự điển Bồ - Việt đầu tiên (1651). Đây là giai đoạn chữ viết phụ thuộc vào tiếng nói (sign of the sign - Aristotle), khi mà người ta chưa phân định rõ âm vị (đơn vị âm) của tiếng Việt. 

ảnh từ nét 

Giai đoạn 2, từ khi có tự điển của A. de Rhodes (1651) đến khi có tự điển của P. de Béhaine (1773) đã có những khác biệt. Có thể giai đoạn này họ kết hợp giọng nói của nhiều vùng miền để phân định rõ hơn các âm vị (đơn vị âm) của tiếng Việt. Ví dụ: blời (trời), tloũ (trông). Cho đến năm 1838 thì đã khá hoán thiện về cách ghi. Giai đoạn này tiếng Việt cũng hoàn thiện hơn qua tương tác với hệ thống ghi âm này, tiếng nói phần nào đã phụ thuộc vào chữ viết (J. Derrida). 

Một trang tự điển của A. de Rhodes:

ảnh từ nét 

Có một số đề nghị cải cách thành loại chữ không dấu của Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Bạt Tụy, còn lại cho đến nay là những nghiên cứu về Âm vị học... 


Một công trình đáng ghi nhận của Nguyễn Văn Tiễu, đề nghị cách viết ngắn hơn, song chỉ nhắm mục đích...tiết kiệm giấy... 

ảnh từ nét 

Về mặt Thư pháp tôi có thể so sánh 2 giai đoạn phát triển chữ Quốc ngữ trên với 2 giai đoạn phát triển chữ Hán là Đại Triện và Tiểu Triện. Giai đoạn thứ 3, khi Pháp cưỡng chế buộc phải dùng chữ Latin như chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán-Nôm, tương ứng với Lệ Thư của chữ Hán ("lệ" ở đây cũng có thể hiểu là "nô lệ" hay "lệ thuộc"). Tôi thấy rằng non trăm năm nay chữ Quốc ngữ đã đem đến cho chúng ta nhiều tiện ích thiết thực, song vẫn chưa thể chuyển tải được một thứ Đạo học mang bản sắc Việt nào đó...Rất mong mọi người yêu thích chữ Việt cùng nhau gắng sức nhằm đưa chữ Quốc ngữ thoát khỏi thuộc tính "lệ thuộc", tiến sang giai đoạn mới trong tiến trình phát triển tự nhiên của ngôn ngữ nói chung, giai đoạn Khải Thư... 

Kết hợp 3 giai đoạn phát triển chữ Quốc ngữ của Huỳnh Ái Tông: 



Có rất nhiều tài liệu nói về công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ, từ khi Trương Vĩnh Ký thành lập tờ báo quốc ngữ đầu tiên là "Gia Định Báo" (1865) ở nam kỳ cho đến năm 1917 khi triều đình Huế bãi bỏ hoàn toàn lối giáo dục bằng chữ Hán, thay bằng chữ Quốc ngữ. Có thể nói chữ Quốc ngữ từng bước thay thế chữ Hán-Nôm từ Nam ra Bắc. Ở miền bắc điển hình thời kỳ này có Nguyễn Văn Vĩnh cũng tìm cách phổ biến chữ Quốc ngữ qua việc làm báo và viết sách trong sự kiểm soát gắt gao của thực dân Pháp, với tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ là "Đăng cổ tùng báo" (1907). Đặc biệt cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã kiên quyết khước từ mọi đặc ân của Pháp để thà làm một người "man di hiện đại". Có thể nói "chữ Quốc ngữ" trong thời thuộc Pháp chưa hàm chứa ý nghĩa đúng đắn vì chỉ được phổ biến hạn chế trong giới quan chức, văn phòng. Các tờ báo đều bị Pháp kiểm soát và con đường để người dân tiếp cận chính là văn chương và nhiệt huyết của đông đảo trí thức An nam thời đó. Có thể danh xưng "chữ Quốc ngữ" là của những trí thức Việt Nam đặt ra nhằm thuyết phục người dân hơn, chứ ở góc độ thực dân thì họ vẫn xem đấy là chữ dành riêng cho "dân thuộc địa". Bạn có thể thấy có sự tương đồng với chữ Hán thời kỳ Tần Thủy Hoàng, khi mà chữ Lệ cũng phát sinh với nhu cầu tương tự, là thứ chữ của tầng lớp quan lại văn thư cấp thấp, với ý nghĩa "lệ thuộc". 
ảnh từ nét 

Chú ý chữ Hán "lệ" hàm nghĩa "lệ thuộc" hay "nô lệ", tương ứng với chữ "clerical" là "công việc biên chép, công việc văn phòng". 

Tiếp tục ý tưởng về sự tương đồng về các bước phát triển chữ viết giữa chữ Việt và chữ Hán thì có một chi tiết khá thú vị là "dấu khắc triện" mà ta thường thấy trên các bức thư pháp. Dấu khắc này là một loại chữ kí viết theo thể Triện được khắc sẵn và được đóng vào các bức thư pháp bằng màu mực đỏ. Dấu khắc này mang ý nghĩa gì ? Hẳn ai cũng hiểu đó là chữ kí của tác giả bức thư pháp. Có khác biệt giữa một văn bản thông thường và một bức thư pháp không ? Gần như ta có thể hiểu một bức thư pháp là một văn bản mẫu, hay ít ra nó cũng có nguồn gốc một văn bản mẫu. Chỉ khác là trong một bức thư pháp thì "sếp" và "nhân viên" là một. Tại sao lại dùng dấu có chữ "Triện" (gọi là "dấu triện") ? Chính đây là bằng chứng của việc phân chia 2 tầng lớp quan lại xưa, cũng giống như giữa các đại diện thực dân và quan lại An nam đối với chữ Quốc ngữ của chúng ta vậy, tuy có thêm chữ kí không phải là chữ Hán-Nôm mà là lối kí trực tiếp bằng bút thể chữ viết đặc sắc của người kí bên cạnh những dấu khắc mang chức năng cao hơn, bao trùm hơn (bộ, hành, quận huyện gì đó). 

Đây là văn bản điển hình ở miền bắc (1938), gồm ba thứ chữ Hán - Nôm - Quốc ngữ và đủ các dấu triện lẫn chữ kí, đáng chú ý là có dấu triện bằng tiếng Pháp (như vậy có cả thảy 4 loại chữ). 

ảnh từ nét 
Chữ Triện và dấu khắc Triện: 

ảnh từ nét 

Đã có khá nhiều Nhân sĩ và người dân Nam kỳ thời đó phản đối chữ Quốc ngữ. Cũng không hẳn là thực dân Pháp buộc dân ta phải học mà đây chính là kết quả các cuộc vận động của các Giáo sĩ đối với chính quyền thực dân nhằm cô lập giới Nhân sĩ vốn coi trọng truyền thống và chữ Hán Nôm hơn. 


Nói chung cả chính quyền thực dân lẫn người An nam khi đó đều đánh giá thấp chữ Quốc ngữ. Đối với các Giáo sĩ thì khỏi cần bàn, vì tất thảy đều là nô lệ của Chúa ... 

Tôi phân tích điều này không phải để chúng ta tiếp tục đánh giá về chữ Quốc ngữ (thứ chữ đã có công rất lớn trong việc mở mang dân trí) mà để thấy được quá trình hay qui luật phát triển nói chung của ngôn ngữ, đó là những ngôn ngữ mang tính phổ quát, đơn giản và tiện dụng luôn tồn tại và phát triển bất chấp ý chí độc tài, bất chấp sự kiềm chế của thực dân, bất chấp những tư tưởng cổ hủ... 

Chữ Quốc ngữ ngày nay đã khá hoàn chỉnh với các phông chữ và phương tiện hiện đại, song về mặt Thư pháp vẫn phải tuân theo qui luật phổ quát của ngôn ngữ nói chung trên, song song với việc khai thác chiều sâu của chữ viết. 

Chữ Quốc ngữ và Lệ thư: 

ảnh ghép từ nét 

Lưu ý là so sánh này chỉ tương đối, về mặt giai đoạn phát triển nói chung của 2 thứ chữ. Về mặt nghệ thuật các thể chữ đều có giá trị như nhau.

Giờ ta sẽ điểm qua vài nét về nguồn gốc xa xưa của chữ Quốc ngữ. Hệ chữ chúng ta đang sử dụng có nguồn gốc là 22 chữ cái kí âm của người Phê-ni-xi (Phoenician Alphabet) khi họ giành được độc lập từ Ai Cập vào khoảng 1200 TCN. Các kí tự này họ cũng chắt lọc từ hệ thống chữ tượng hình Ai Cập tôn nghiêm và phức tạp, gọi là Hieroglyph (từ nguyên học nghĩa là "chạm linh thiêng", các tự điển dịch cũng chưa chính xác, tớ dịch là "linh tự" vậy, không biết có ai dịch như vậy chưa?). Linh tự còn có các biến thể "thầy tu" và "bình dân". Người Phe-ni-xi là tổ tiên của người Li-băng, phía bắc Israel ngày nay. Sau đó người Hy Lap đã thay vào đó những nguyên âm. 

ảnh từ nét 

Xin nói thêm là chữ mà các nhà truyền giáo dùng cho người Việt chính xác là chữ cái La Mã chứ không phải Latin. 

ảnh từ nét 

Điểm các thời kỳ thì ta có thể nói các dân tộc, các vùng đất bị thống trị luôn tạo nên một hệ thống chữ viết mới từ hệ thống của kẻ thống trị (thực dân) sao cho thích nghi với đặc tính ngôn ngữ và văn hóa của họ (chữ viết phụ thuộc lời nói) và hoàn toàn thoát khỏi tính tượng hình (từ "Icon" thành "Symbol")... 

Các thuộc địa của người Phe-ni-xi được thiết lập cùng các điểm thương mại dọc Địa Trung Hải, khoảng năm 1000TCN. 

ảnh từ nét 
Thuộc địa của người Hy Lạp khoảng năm 550 TCN: 

ảnh từ nét
Sau đó là thuộc địa La Mã 

ảnh từ nét 

Bạn có thể dễ dàng nhận thấy những tương đồng cả về nét chữ lẫn hoàn cảnh hay giai đoạn phát triển của cả 2 loại chữ viết trên. Có thể nói chữ Alphabet Hy Lạp là tương đương với Khải thư chữ Hán. 

Tiến triển của chữ Hán 

ảnh từ nét 

Sự tiến triển của chữ Alphabet. 

ảnh từ nét 

Chú ý chữ "Khải" cũng có nghĩa là "mẫu mực", với chữ Alphabet thì gọi là "mẫu tự". 
ảnh từ nét 

Kết luận này rất hữu ích trong việc tìm kiếm cho Thư pháp chữ Quốc ngữ một hướng đi, theo tôi, đó là tìm kiếm một phông chữ Quốc ngữ làm chuẩn, phải tối giản, rõ ràng...Có rất nhiều phông chữ Thư pháp Quốc ngữ bằng vi tính, song tôi thấy chưa có phông chữ nào theo đúng qui luật trên... 

Chữ viết như vậy là phụ thuộc vào các yếu tố chính 

1. Thời đại. 
2. Giai cấp. 
3. Đặc điểm dân tộc, gồm ngôn ngữ và văn hóa. 
4. Tâm trạng từng cá nhân viết chữ. 

Các thuộc tính này đã khiến chữ viết biến đổi, chính sự biến đổi đã khiến người ta nhận thấy rằng chữ viết cần phải bất biến, cần phải chuẩn mực. Cả 2 dòng chữ viết Đông - Tây đều đã được chuẩn hóa, một bên là thể Khải và một bên là các chữ cái Alphabet chuẩn riêng của Hy Lạp, Latin và La Mã. Ba thuộc tính đầu được gom về một thuộc tính chuẩn mực và từ đây thì nghệ thuật viết chữ chỉ còn phụ thuộc vào 2 yếu tố: 

1. Yếu tố chuẩn mực có được từ rèn luyện và 
2. Yếu tố khó kiểm soát hơn, đó là tính cách và tâm trạng của người viết. 

Cần lưu ý là cả 2 loại chữ viết Đông-Tây đều có điểm chung, đó là đã tiến đến mức độ biểu tượng (symbol), hoàn toàn mất tính hình tượng (icon). Do đó Thư pháp hay Calligraphy cũng phải hoàn toàn là biểu tượng, mọi xu hướng biểu đạt mang tính hình tượng đều đi ngược với xu hướng chữ viết nói chung là vậy. Thứ đến là để có được sự biến hóa của Thư pháp Hán thì buộc phải dựa vào một phông chữ chuẩn (Khải thư - biến hóa phải có chuẩn mực thì mới biến hóa được). Tuy nhiên ta cũng có thể chia Thư pháp Hán làm 2 giai đoạn: 

- Giai đoạn "vẽ chữ": Giáp cốt văn, Kim văn, Đại-Tiểu Triện, Lệ thư. 
- Giai đoạn "viết chữ": Khải thư, Hành-Thảo thư. 

Những nhận định này cho thấy Thư pháp chữ Quốc ngữ của chúng ta thiều gì ? 

- Đối với mỗi nhà Thư pháp Việt, đó là phông chữ chuẩn của riêng họ mà từ đó có thể biến hóa theo các thể Hành-Thảo. Hoặc: 

- Thư pháp Việt đang ở giai đoạn "vẽ chữ". 

Sự biến hóa của Thư pháp Hán cũng tạo nên chiều sâu của chữ nghĩa, chữ Latin cũng có thể biến hóa và có chiều sâu nếu mỗi người có được phông chữ viết chuẩn tắc của riêng mình. 

ảnh từ nét 

Cũng xin nói rõ hơn là việc phân chia chữ viết thành 2 hệ chính là Tượng Hình và Tượng Thanh là tương đối chính xác về mặt bản chất của từng hệ chữ viết. Như đã nêu trên thì chữ Hán đã tiến tới ranh giới của tượng thanh nhưng chưa đến mức đơn vị âm (âm vị) như hệ Alphabet, tuy đa phần chữ Hán ngày nay thuộc dạng Hình Thanh (kết hợp bộ thủ còn chút tính chất tượng hình kết hợp với chính những tên gọi của chúng). Do đó tôi nghĩ vẫn phải xếp chữ Hán vào hệ tượng hình (như Linh tự Ai Cập cũng có những cách kết hợp tương tự). Bảng chữ của người Phê-nê-xi tương đương với những bộ thủ chữ Hán nhưng lại mang tính chất "hình thanh". Đó là những tiền-phụ âm. Người Arameans (các bộ tộc rải rác ở Cận Đông) cũng từ đó phát triển lên thành các phụ âm (consonant) - khoảng thế kỷ 8 TCN, đồng thời người Hy Lạp cũng thêm vào các nguyên âm (vowel). Đây mới là chính thức bước sang Hệ tượng thanh. Người ta xem bộ chữ của người Phê-nê-xi là khởi thủy của Hệ chữ tượng thanh ngày nay. Có thể nói ngắn gọn để dễ phân biệt là hệ chữ có yếu tố tượng hình (như bộ thủ chữ Hán) thì cứ việc gọi đấy là "chữ tượng hình", vì yếu tố tượng hình chỉ đến một hình ảnh hay tính chất chung, một thể loại, một phạm trù nào đó. Về mặt thư pháp Hán thì hầu như không có sự phân biệt (vì viết chứ không phải đọc), dù các chữ là "hình" hay "thanh" đều viết như nhau. 


Chữ Hội ý: người ngồi (bộ nhân) bên cây hàm ý "nghỉ" (ngơi). 


Chữ Hội ý: ba giọt nước (bộ thủy) từ chiếc bình hàm ý "rượu" 

ảnh từ nét 

Nói rằng Thư pháp gắn liền với chữ tượng hình cũng khá chính xác, vì ấn tượng mà Thư pháp Hán tạo nên là ấn tượng về mặt hình tượng và có chiều sâu hơn khái niệm Calligraphy (mang nghĩa rộng hơn nghĩa Thư pháp). Chính điều này khiến nhiều người cho rằng chỉ cần tạo bất cứ ân tượng nào cho chữ Quốc ngữ cũng đều là... thư pháp (!). Họ đã không tính đến những qui luật ngôn ngữ nói trên. 

Tôi định sáng chế một loại viết nhưng qua các thử nghiệm bằng bút máy và phấn thì thấy không cần thiết nữa. Tôi quay lại ý định ban đầu là thiết lập những tiêu chí, kỹ thuật và phông chữ cho tầng lớp học sinh và giáo viên. Bảng da thì tôi đã đi khắp Saigon tìm kiếm được loại vải giả da (dùng làm nệm salon hay yên xe), loại vải này bán ở đường Âu Cơ, loại khoảng 35 nghìn/mét, rộng khoảng 1,5m, đủ làm một chiếc bảng da loại vừa (có thể đệm thêm một lớp nệm bên trong và xịt một lớp sơn đen lên cho dễ lau, cũng có thể dùng một bình xịt nước lau sẽ sạch hơn). Muốn tập viết chữ Hán chỉ cần kẻ ô vuông lên là được. Bạn nào làm giáo viên hãy cứ làm thử sẽ thấy thuận tiện hơn loại bảng gỗ hiện hành. Còn về bút máy thì tôi chỉ mới thử các loại bút và mực rẻ tiền, rất khả quan với lối viết mà tôi đang trình bày (bạn thử sáng tạo cách riêng xem sao). Với những loại bút máy và mực đắt tiên tôi nghĩ sẽ càng khả quan hơn. 

Đây xu hướng đơn giản hóa chữ viết của một số nước châu Âu. Ở VN cũng có thời kì cải cách chữ viết theo xu hướng này. 

ảnh từ nét 

Chẳng biết khi xưa ai là tác giả của việc cải cách chữ viết theo hướng giản đơn hơn. Việc giải cấu trúc của tôi cũng đưa về gần đúng với lối viết chữ như thế. Đấy đúng là qui luật của chữ viết: luôn có xu hướng tối giản, rõ ràng, tiện dụng. Nếu các giáo viên và học sinh VN vận dụng sáng tạo và kết hợp với lối viết thư pháp tôi tin rằng lối viết chữ thẳng hơn trên sẽ khả quan hơn, thậm chí bao hàm luôn cả lối viết uốn lượn, vì cũng theo qui luật, những gì dễ hơn phải được học trước. 

Ai cũng nhận thấy rằng kỹ thuật in ấn (typography) đang đẩy lùi và khoanh vùng Calligraphy nói chung và Thư pháp nói riêng vào trong phạm vi nghệ thuật. Thuật in ấn xuất hiện sau thuật viết chữ cả nghìn năm. Ta hãy điểm qua một vài cột mốc quan trọng: 

3500 TCN: Linh tự Ai Cập. 
1500 TCN: chữ Do Thái (lưu ý là có 2 loại chữ Do Thái, loại cổ và loại cách điệu từ hệ Alphabet của người Phê-ni-xê). 
1000 TCN: Alphabet của người Phê-ni-xê. 
600 TCN: Alphabet của người Hy Lạp. 
114 SCN: Alphabet của người La Mã. 

Giai đoạn phát triển việc in ấn (typhography): 

300 TCN: Hy Lạp và La Mã sử dụng sách nhiều trang bằng gỗ đầu tiên, giống với sách ngày nay. 
105 : người Trung Hoa phát minh giấy. 
800 : người châu Âu viết tách biệt các từ. 
868: người Trung Hoa in quyển sách đầu tiên (in lụa). 

Khoảng 1200: Triều Tiên đã phát minh phương pháp định dạng bản in. 

Thế là đủ các món, nào là sách, giấy, từ, cách in và bản in cho Johann Gutenberg phát minh ra máy in (1450). 

1465: Sweynheym và Panartz sáng tạo loại chữ in ở Ý. 
1501: Fracesco Griffo sáng tạo loại chữ in nghiêng... 

Thời đại thông tin đồng hành cùng thuật in ấn hiện đại đang nhấn chìm sự khéo léo của con người, trong đó có chữ viết tay là kỹ năng trước tiên của hầu hết con người xã hội. Viết chữ, đặc biệt là thư pháp vẫn chứa đựng điều gì đó, nó giúp kết nối quá khứ, nó giúp ta "ngoi lên" giữa dòng chảy của Typography, nó giúp ta gạn đục khơi trong, nó giúp ta tìm lại những nguồn cảm hứng... 

Sách in ở triều đại nhà Tống (960-1279). 

ảnh từ nét 

Cây bút dông nay gợi lại một thời. Giờ chẳng biết nơi nào còn bán. Lọ mực nhựa xưa kia còn cẩn thận đặt một cái nắp ngược hình phễu để đề phòng va đổ. Học trò nhỏ lấm lem...Một nghệ thuật nhỏ nhoi cũng phai tàn dần. Mong rằng nó vẫn sống dậy và không quá cách biệt, nó vẫn ở trong tầm tay của mỗi người... 

ảnh từ nét 

Thật khó chấp nhận định nghĩa thư pháp là "nghệ thuật viết chữ đẹp", thậm chí các nhà thư pháp chữ Hán-Nôm-Quốc ngữ cũng đã đánh đồng thư pháp với khái niệm "Calligraphy". Ai cũng có thể cảm nhận có sự khác biệt nào đó giữa Calligraphy và Thư pháp. Như tôi đã nêu trên thì Thư pháp theo cách hiểu xa xưa của chính chúng ta thì nó có chiều sâu hơn Calligraphy. Chiều sâu về mặt lịch sử, nó liên tục, nó gắn liền với các triều đại và danh nhân, và chiều sâu của nội tâm người viết. Chúng ta hãy thử định nghĩa thế nào là chữ viết xem sao. Tôi có thể định nghĩa chữ viết như sau: 

- Chữ viết là sự kết hợp hay tổ hợp các yếu tố tượng thanh và tượng hình.

Thế còn "viết chữ" là như thế nào ? Tôi sẽ định nghĩa tiếp như sau: 

- Viết chữ là sự kết hợp hay tổ hợp các nét chữ để tạo nên các chữ riêng biệt. Viết chữ tượng hình là kết hợp các yếu tố tượng hình và viết chữ tượng thanh là kết hợp các yếu tố tượng thanh (âm vị). 

Tôi xem định nghĩa về "viết chữ" trên bao hàm luôn Calligraphy và Thư Pháp. Thế nào là Calligraphy ? Thế nào là Thư pháp? Cả 2 nội hàm này đều có chung yếu tố "kết hợp các nét chữ". Ta cũng có thể mở rộng định nghĩa trên: 

...và là sự kết hợp các chữ để tạo nên câu văn. 

Khi viết thư pháp chữ Quốc ngữ chúng ta phải tạm quên yếu tố âm vị (đã đề cập)... 

Không hẳn là các đặc tính như 8 nét cơ bản và ô vuông cố định đã định tính cho Thư pháp Hán, mà chính những nét thẳng (như nét sổ) của chữ Hán mới có vai trò quyết định. Theo thuyết phối cảnh tuyến tính (Linear perspective) thì chính cách nhìn các vật như nằm dọc những đường thẳng song song vô hình mới tạo nên những ấn tượng hội họa. Như vậy Thư pháp Hán và Thư pháp Việt còn có chung một đặc tính nữa: đều có tính chất phối cảnh tuyến tính theo những nét thẳng và song song. Tuy nhiên khác với chiều sâu về không gian của hội họa phối cảnh tuyến tính Phục hưng, của chủ nghĩa hiện thực hiện tượng, những ô vuông tạo nên cảm giác về một mặt phẳng, phẳng hơn cả mặt phẳng của tờ giấy. Chính những ô vuông này (dù vô hình) tạo nên một hiệu ứng đối lập với các nét chữ. Hiệu ứng này cũng có chiều sâu, chiều sâu này không tự nhiên, nó như ấn, như lặn vào phông nền hoặc những nét chữ như trượt, như nổi hẳn trên bề mặt phẳng, nó như cưỡng lại tính chất vuông vắn và phẳng phiu của những ô vuông vậy. 

Như những bức chữ ví dụ của tôi. Tôi viết bằng viết máy trên giấy học sinh có ô vuông. Tôi hầu như không chú ý đến ô vuông, chỉ là để canh cho thẳng hàng. Các chữ cũng không cần phải đặt vào những ô vuông, song những đường kẻ ô vuông tạo nên một hiệu ứng phối cảnh bên cạnh hiệu ứng các nét chữ. Những ô vuông cùng với phông nền như tạo nên mặt đối lập với những nét chữ. Với Thư pháp Hán thì những ô vuông là vô hình. 

Không phải bức Thư pháp Hán hay Thư nghệ Hàn nào ta cũng có tính chất phối cảnh tuyến tính (hoặc do bạn chưa phát hiện được), nhất là Thư nghệ Hàn. Tuy chữ Hàn đa số có nét xổ thẳng giữ vai trò chủ đạo, song đấy không phải là những nét thẳng hoàn toàn, chúng hơi bị vạt ở 2 đầu. Chính điều này làm mất hiếu ứng phối cảnh. Còn Thư pháp Hán do có quá nhiều nét nên chúng lấn át các nét thẳng do đó cũng làm giảm hiệu ứng phối cảnh. Tôi có thể kết luận: Thư pháp Hán tạo hiệu ứng phối cảnh theo các khối, Thư pháp Việt tạo hiệu ứng phối cảnh theo những nét thẳng. 

Nếu phối cảnh tuyến tính tạo nên những bức tranh có chiều sâu không gian 3 chiều và tĩnh thì trong Thư pháp ta có thể tạo hiệu ứng mặt phẳng kép và động.. Nếu hội họa Phục hưng là chủ nghĩa hiện thực hiện tượng mang tính tâm lý tác động tùy thời gian quan sát thì Thư pháp có thể hiểu như là một hiện thực mang tính hiện tượng tâm linh và tác động tức thời. Hội họa Phục hưng hàm chứa nhiều ngôn ngữ và ý nghĩa, còn trong Thư pháp ngữ nghĩa không quan trọng mấy ...