Khi một cấu trúc nào đó không thể phát triển nữa, thì nó bộc lộ những nhược điểm mà từ đó nó dễ dàng bị phá hủy nhất. Các lí thuyết cũng giống như những cấu trúc vậy, cũng có những nhược điểm để từ đó một lí thuyết mới được hình thành. Những lí thuyết được hình thành như thế thường được gọi là "hậu lí thuyết" của lí thuyết trước. Tuy nhiên chữ "phá hủy" ở đây có thể hiểu ngược lại, nghĩa là ta cũng có thể củng cố cấu trúc tại những nhược điểm của nó.
Chẳng hạn cái gọi là Dĩ Ngôn Vi Trung có từ thời cổ đại, xem chủ thể nói là trung tâm, điều được nói đến là những đối tượng khách quan. Giống như khi ta là khán giả đang trực tiếp xem một diễn giả diễn thuyết vậy, chúng ta thấy và nghe từ hai đối tượng: diễn giả là trung tâm và đối tượng được đề cập. Nhưng đối với văn bản viết thì ta không thấy chủ thể đâu, thay vào đó chính ta đóng vai trò chủ thể thay thể tác giả. Như thế dường như có một sự mất mát nào đó, gọi là sự vắng mặt của chủ thể hay của khác giả. Chính sự vắng mặt này sẽ đóng vai trò siêu nghiệm, văn bản giống như một bài toán có vô số lời giải mà tác giả chỉ là một trong những lời giải đó, tùy cách hiểu của người đọc. Và cũng có thể một trong cách lời giải (hay cách hiểu) của bạn sẽ tạo nên một cấu trúc bền vững hơn, và cứ thế, chúng ta không thể nào biết được đâu là lời giải hay nhất cho văn bản đó. Chỉ có điều là cách hiểu văn bản sẽ sinh ra các vấn đề mới. Do sự vắng mặt của chủ thể đích thực tức không chịu ảnh hưởng của họ mà khi đọc văn bản chúng ta có thể khám phá ra những bất hợp lí của văn bản đó. Còn một điều nữa, do một hiện trạng tâm lí được tạo nên từ chính quá trình hình thành chữ viết và tạo nghĩa qua dấu hiệu học mà khi đọc một văn bản chúng ta luôn tìm cách hiểu khác với những gì văn bản muốn nói. Đây cũng là cơ sở chính của cái gọi là Giải cấu trúc, cái mà J. Derrida gọi là trì-biệt (différance). Tuy nhiên sự trì-biệt này cũng khó cưỡng lại sức hấp dẫn của khớp-âm (articulation). Khớp-âm là giai điệu đã giúp hình thành nên cấu trúc ngữ pháp. Chúng ta đọc truyện Kiều không những khó mà thoát khỏi cái vẻ khoáng đạt uyên thâm mà nhiều người ca tụng Nguyễn Du, mà còn vì Kiều dễ thuộc, vì cái tính chất khớp âm của ngôn từ. Đây chính là điều mà Derrida còn phân vân. Ngữ pháp có thể đánh lừa chúng ta không? Khi nói về một ngọn núi chúng ta có thể nghĩ đến những ngọn núi khác nhau nhưng tính trầm hùng của nó ai cũng cảm nhận được. Đó không phải là hình ảnh ngọn núi đã ăn sâu vào tâm thức ta, mà chính cái mật mã trầm hùng giác quan ta đã thu nhận được. Tiếng của mùa thu vàng úa, của mùa đông se lạnh, của sắc xuân rực rỡ. Tiếng hổ gầm uy nghi, tiếng thác đổ ầm ầm, tiếng lá bay xào xạc, tiếng chim kêu vượn hú. Tất thảy đều khác biệt và khớp nối với môi trường, chúng hình thành những mật mã của giác quan chúng ta, để rồi trong những tình huống thích đáng nào đó, sẽ được chúng ta tái tạo. J. Derrida đề cao ngữ pháp là vì thế. Ngữ pháp khớp nối với tự nhiên, nó chính là đồ hình của tự nhiên. Tự nhiên là chủ thể đích thực của văn bản mà người viết chỉ là một trung gian truyền tải. Tự nhiên được phản ảnh qua ngữ pháp, nó không hề bằng phẳng, khi thì nhô lên một ngọn núi cao , khi lại xuôi xuống một thung lũng, lúc lại thoai thoải. Tự nhiên quyết định hình thức sống của muôn loài. Vấn đề là con người có những tập quán sống như thế nào trong tự nhiên? Lịch sử loài người là những cuộc di cư và du cư. Du cư giúp hình thành sự đa dạng về nhân chủng học của nhân loại, các dân tộc với ngôn ngữ và tập quán khác nhau được hình thành. Cứ đến một vùng đất, sau khi an cư lạc nghiệp thì một bộ phận lại lên đường tìm một vùng đất mới.Con người đã lan tràn khắp địa cầu từ một nơi xuất phát là châu Phi. Ngữ pháp là một thứ đồ hình, vì nó lưu giữ tập quán, tập quán là một đồ hình của lịch sử, cho dù đó là lịch sử trong vô thức.Việc định cư sẽ giúp cố định tập quán, khi đó lịch sử du cư cũng sẽ dừng lại, sẽ phát triển lên thành những nhánh, sẽ đâm hoa kết quả, rồi sẽ lại nảy mầm một thế hệ mới. Khi một bộ lạc định cư thì họ cũng dừng luôn việc kết nối với thế giới bên ngoài, cấu trúc ngữ pháp dừng lại và ngôn ngữ sẽ phát triển đến mức thần thánh. Trì-biệt của Derrida không thể hóa giải hết tính chất khớp-âm của ngữ pháp. Khớp-âm nằm trong chính sự giải mã của người đọc. Trì-biệt đưa chúng ta lùi một bước về với tình trang mới định cư, trong khi chúng ta cần phải tiến lên tìm một miền đất mới. Kết nối "và" của D & G sẽ bỏ lại tất cả, một vùng đất, một tập quán, một ngữ pháp, một đồ hình. Hành trang ngữ pháp của D & G chì là "và", và một tấm bản đồ tiên nghiệm.
============
Bài viết ngày 5/10/13 trên ttvnol.
Đây là một cách tóm tắt về Văn tự học hay Khoa học Văn bản (Of Grammatology) của Derrida.

Đây là một cách tóm tắt về Văn tự học hay Khoa học Văn bản (Of Grammatology) của Derrida.
Mấy hôm nay tớ truy vấn lại Giải cấu trúc, tìm được một vài điều mới mẻ. Tớ còn phải phân vân về cái từ Ngữ Pháp học (Of Grammatology). Đây là bản dịch tớ rất quí, vì đó là thử sức đầu tiên của tớ khi trở lại tiếng Anh và cũng là để có một cái gì đó để...suy nghĩ. Một số tác giả dịch khác cụm từ Grammatology mà ngay khi đọc tớ cũng chưa tìm hiểu kĩ nên cứ tạm gọi là ngữ pháp học (vì nghe cũng...hay hay). Cái từ này thực ra nó luôn nhắc nhở tớ về mặt ngữ pháp khi dịch tiếng Anh sang tiếng Việt. Tuy nhiên độ sai lệch này cũng chứng minh tinh thần của Giải cấu trúc, nó chấp nhận sai lệch như một hướng sáng tạo, mà nhờ đó tớ đã tìm về một lối viết Thư pháp chữ Quốc ngữ chẳng hạn. Nếu chữ Hán có 8 nét cơ bản thì chữ Quốc ngữ của chúng ta chỉ cần 3 nét cơ bản. Đấy là từ một quá trình "giải cấu trúc chữ Quốc ngữ" (bài đã đăng trên box tiếng Việt này). Trở lại vấn đề, tớ liệt kê một số cái tên nổi bật của một số tác giả:
- Văn-fạm luận của Nguyễn Quỳnh trên trang tienve.
- Văn tự học, tớ thấy Khổng Đức dùng chữ này, tuy nhiên nó có nguồn gốc Trung Quốc, nghĩa là được phiên âm từ Hán sang Việt. Chữ này tớ thấy chính xác nhất.
- Nguyên bản học của Hà Hữu Nga.
Tất thảy những cụm từ này đều là cái mà Derrida gọi là dấu-tích (trace) của từ Of Grammatology nói riêng và toàn bộ văn bản của nó nói chung. Có một bản dịch của Dương Thắng gọi trace là "vệt", có thể biểu diễn như sau:
Grammatology (ngữ pháp học, văn-fạm luận, văn tự học, nguyên bản học...): kéo dài như một cái bóng (vệt) vậy.
Vệt hay dấu-tích cũng gần với cái gọi là trì-biệt (differance - các dịch giả cũng gọi bằng nhiều tên khác nhau). Tuy nhiên, trì-biệt là có mục đích hơn dấu-tích, được cho là phi-mục-đích (unmotivated) đối với nguyên bản.
Of grammatology có nhiều thuật ngữ, khái niệm triết, một trong những khái niệm đó là Dấu Hiệu học. Tớ dự định dịch xong dấu hiệu học của Daniel Chandler sẽ quay lại với Giải cấu trúc, nhưng rồi lại lạc sang Thư pháp Quốc Ngữ, linh tinh các thứ rồi tới cả D &G gần đây. Nhưng cũng nhờ thế mà trình độ dịch thuật của tớ cũng thăng tiến. Mặc dù đối với Giải cấu trúc có thể chấp nhận những sai lạc dịch thuật, nhưng tớ vẫn muốn có những tiêu chuẩn về dịch thuật hơn. Bạn nào không chấp nhận những tiêu chuẩn này thì đừng có hòng TRÍCH DẪN văn bản của người khác, nhất là các tác giả nước ngoài nhé. Cũng vì không ai chịu ai và không có những tiêu chuẩn dịch thuật nói riêng và học thuật nói chung mà rất ít người có được những văn bằng ở trong nước và bằng tiếng Việt. Nghi ngờ về văn bản dịch thuật cũng là những dấu-tích trong tư duy mà giới học thức Việt Nam đã truyền lại cho sinh viên học sinh. Người ta không còn tin vào nền học thuật nước nhà. Cho dù về học thuật có sai biệt thì đã gọi là nền học thuật, chí ít họ cũng phải thống nhất trước và hiệu chỉnh sau.
Có một học giả Việt kiều hết sức uyên bác với lối hành văn đặc dị là Ông Nguyễn Quỳnh. Ngoài một số thuật ngữ rất chuẩn xác, rất khó chấp nhận một thứ tiếng Việt "vỡ vụn" như thế. Tiếng Việt vốn rời rạc nhưng sự rời rạc này giúp tiếng Việt uyển chuyển hơn. Tớ cũng đã có ý tưởng dùng dấu cách "-" để dễ phân biệt các cụm từ nhưng thấy không cần thiết. Thứ nhất vì dấu cách sẽ cản trở đến việc viết, thứ đến là ta có thể sử dụng một số tiện tích số, như dùng chữ nghiêng hayđậm, gạch dưới...để tách biệt cụm từ với toàn bộ đoạn văn chẳng hạn. Ý tôi là phải diễn giải văn bản đến mức không thể diễn giải được nữa, nghĩa là đến những đơn vị nghĩa, là tối giản với ưu thế ghi âm hoàn hảo của chữ Quốc ngữ, đồng thời bổ sung bằng một số hình thức diễn giải khác, như bằng hình ảnh hoặc bằng SẮP ĐẶT NGHĨA như tôi đã trình bày ở trên. Chẳng hạn như từ lượng tử mà Ông Nguyễn Quỳnh cho là sai lạc hoàn toàn. Tôi cũng đồng ý với từ lưỡng tử của ông chính xác hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề, chẳng hạn như nhận định của Saussure, ngôn ngữ có tính chất "võ đoán" (arbitrary). Chữ võ đoán này trước có thể nói là tôi hiểu, nhưng rồi qua Văn Tự học (từ nay tớ sẽ dùng cụm từ này thay cho Ngữ Pháp học) tôi chẳng hiểu "võ đoán" là gì sất, có phải là nó đối lập với tự nhiên không? Nhưng với từ "tự-định" thì có vẻ đã sáng tỏ hơn. Không phải tất thảy các cụm từ của Ông Nguyễn Quỳnh đều như thế (hoặc là do chúng ta chưa quen). Có thể nói là ông hơi lạm dụng từ Hán-Việt, mặc dù ông bài xích việc sử dụng này. Chẳng hạn với cụm từ "Kinh thành Huế là một quần-thể", ông có nhận xét với đôi phần dí dỏm, và đề nghị một cụm từ Việt hơn - Kinh thành Huế gồm những tòa nhà. Nhưng mà những tòa nhà lại có vẻ gợi đến thời kì thực dân hay hiện đại chứ nhỉ !? Đúng là ngôn ngữ học!!! còn từ teleology thì lại là Nguyên-lí Uyên-nguyên. Chẳng hiểu gì sất. Chắc toàn Nho Khổng gì gì đó. Chữ "nguyên" khá gần với chữ Nguyễn, nó giống như kí-hiệu pi và thêm một dấu như chữ "B dài" ở bên trái thì thành chữ Nguyễn
. Tuy nhiên, những bài viết của Ông Nguyễn Quỳnh là nguồn tham khảo rất quí giá. Với từ lượng-tử vì tớ đã phải tham khảo nhiều sách nên quen tai rồi, với từ tự-định thì xin phép ông được sử dụng. Có lẽ cái tối hậu của ngôn ngữ là hình ảnh, khá gần với nhận định của Saussure.
Theo tớ thì tiêu chuẩn trước hết để chọn từ không phải là nghĩa Việt hay nghĩa Hán, mà là tính chất khớp-âm của nó với câu văn đề cập vấn đề nói riêng, và với tiếng Việt nói chung.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét