Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

ĐÁNH VẬT VỚI THUẬT NGỮ TRIẾT

Có một bài viết của ông Bùi Văn Nam Sơn trên triếthoc về Deleuze. Tớ nhặt nhặnh một số từ:

Rhizome: ông Nam Sơn dịch là Kết Chuỗi. Tớ thấy từ này chưa chính xác lắm, nhất là trong phần Giới thiệu: Thân rể (Introduction: "Rhizome") của Deleuze. Ở phần này Deleuze đi từ những hiện thực tự nhiên như Cao Nguyên, cây cỏ, ong, hoa, chuột, mèo, khỉ, máy móc, người du cư ...rồi mới nhấn mạnh vào thân rễ cùng những đặc tính kết chuỗi của nó. Tại sao Deleuze ở xứ hoa lệ không chọn một từ hàn lâm hơn cho ý tưởng của mình? Tôi cũng khá quen thuộc với cái gọi là thân rễ: cỏ tranh, tre rừng, khoai mì nên tôi thấy dễ hiểu hơn cái đặc tính "kết chuỗi". Có một từ mà tôi nghĩ nó được nâng lên mức hàn lâm từ Thân rễ này: 

Rhizomorphism

Tôi đề nghị dùng từ Thế Luận, và một từ phát sinh từ ý tưởng thân rễ Deleuze:

Rhizomatic learning: Thế Học 

Tôi nghĩ tính chất cơ bản của thân rễ là lan theo Thế hơn, không như thân cây chỉ có một cách là vươn lên cao.

Từ tiếp theo của ông Nam Sơn là:

Đa thể

Như Deleuze đã giới thiệu thì thân rễ chỉ là hình ảnh ẩn dụ cho những ý tưởng trừu tượng hơn của Deleuze, trong có từ Multiplicity. Tôi nghĩ bản thân từ "thân rễ" cũng đã nói lên tính chất đa hình thể của nó rồi. Còn bên trong thì Deleuze mở rộng hơn là thân rễ có thể thay đổi về bản chất (như củ nghệ mà thành của riềng vậy). Hơn thế nữa, vấn đề còn liên hệ đến bệnh tâm thần phân lập nữa. Bệnh TT phân lập là gì? Là Đa Tính Cách. Làm thế nào để biết một người là đa tính cách? Không phải là họ chỉ việc thay vài bộ cánh rồi chụp ảnh. Đa tính cách phải thể hiện qua cách hành xử mỗi lúc mỗi khác. Deleuze cũng đã có cái gọi Mặt Phẳng Nhất Quán (hay mặt phẳng nội tại). Khi một multiplicity tìm được một thế, nó biến đổi bản chất, nghĩa là multiplicity có một THẾ CÁCH trước khi biến sang một thể khác, nó kiếm cách trước khi biến thể. Hơn nữa triết học Deleuze không có chủ thể lẫn khách thể ("...một cuốn sách không có chủ thể lẫn khách thể - Giới thiệu: "Thân rể") thì làm sao có thể có Đa Thể ở đây (!!??). Theo cách hiểu nông cạn này của tôi thìmultiplicity nên gọi là:

Đa cách

Từ tiếp theo của ông Nam Sơn là:

“thụ hưởng sự khác biệt” (jouissance de la différence)"

Chữ "thụ hưởng" ông Nam Sơn dùng ở đây chưa đúng lắm. Khổ dâm cũng là jouissance. Tôi đề nghị dùng từ:

Phức khoái

Một đoạn khác:

"Nietzsche trả lời câu hỏi này bằng một thứ loại hình học (typologie) phức hợp về người giáo sĩ Do thái giáo..."

Tôi nghĩ từ "địa hình học" thích hợp hơn, trong ngữ cảnh người du cư nói chung và thú du lịch của Nietzsche nói riêng...

Chính tôi cũng tiếp cận Triết học theo lối thân rễ, nghĩa là chẳng có đầu đuôi gì cả...Tuy nhiên tôi vẫn cần nhiều thời gian để cân nhắc về các thuật ngữ của ông Nam Sơn.

Còn đây là tôi tiếp tục thực nghiệm một cách học lấy ý tưởng từ Deleuze: SẮP ĐẶT Ý NGHĨA. Đây là tổng kết một số vấn đề về dấu hiệu học. Sơ đồ này cũng tổng kết những gì Derrida đã chứng minh trong Văn Tự học (Of Grammatology) về tính chất tương đương giữa lời nói (speech) và văn bản (writing), không có ranh giới chia bên trong và bên ngoài:


Thuật ngữ từ tiếng Anh:

Sign: dấu hiệu
Symbol: biểu tượng là từ mà Langer dùng để chỉ ngữ hiệu.
Linguistic sign: Ngữ hiệu
Vehicles for the conception of objects: phương tiện biểu lộ khái niệm về đối tượng
Sound: âm thanh.
Thought: tư tưởng
Sound pattern: khuôn âm.
Concept: khái niệm
Written word: từ viết
Spoken word: từ nói
Signifier: kí hiệu (hay biểu đạt)
Signified: thụ hiệu
Grapheme: tự vị
Phoneme: âm vị
Arbitrary: võ đoán
Autonomy: tự trị
Object: đối tượng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét